Trang 3 của 6 Đầu tiênĐầu tiên 123456 CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 54

Chủ đề: Điều hành linh hoạt tài chính tiền tệ là khó lắm.

  1. #21
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Giá xăng trong nước đã tăng nhanh hơn đà tăng của giá xăng thế giới.

    Tính từ lúc cơ chế kinh doanh xăng dầu thay đổi (nghị định 84 có hiệu lực từ ngày 15-12-2009), quyền tự quyết được trao cho doanh nghiệp (DN), giá bán lẻ mặt hàng xăng A92 đã tăng từ 15.950đ lên 16.990đ/lít. Nghĩa là giá mỗi lít xăng trong nước đã tăng trên 1.000 đồng, trong khi giá xăng nhập khẩu tại thị trường Singapore chỉ tăng khoảng 400đ/lít.
    Người phát ngôn của Tổng công ty Xăng dầu VN (Petrolimex), phó tổng giám đốc Vương Thái Dũng cho rằng việc điều chỉnh trên là hợp lý so với thị trường thế giới.
    “Chỉ tính riêng mặt hàng xăng, tại thời điểm tăng giá chúng tôi vẫn chưa có lợi nhuận. Nếu chiếu theo quy định của Nhà nước, chúng tôi chỉ mới tăng 75%. Nghĩa là chúng tôi có quyền tăng đến 10 đồng nhưng chỉ mới tăng 7,5 đồng vì còn tính đến yếu tố tác động xã hội chứ không thuần túy kinh tế”.
    Một trong hai lý do chính được các DN viện dẫn khi tăng giá xăng lần này là do giá thế giới tăng. Nhưng tính từ lúc tăng giá xăng lần gần đây nhất (ngày 14-1) đến nay, giá nhập khẩu chỉ tăng chưa tới 1 USD, từ 82-82,5 USD/thùng. Nguyên nhân thứ hai được các DN nêu là do tỉ giá tăng trên 600 đồng/USD, được áp dụng từ ngày 10-2 nên đã đẩy giá xăng nhập khẩu lên cao. Tuy nhiên, theo một chuyên gia trong ngành, tỉ giá tăng 600 đồng chỉ đẩy giá thành xăng tăng khoảng 400đ/lít.
    Chính vì thế, giám đốc một DN kinh doanh xăng dầu thừa nhận: “Thật ra chưa đến mức tăng 600 đồng mỗi lít xăng ở thời điểm này. Với mức chiết khấu cho các đại lý như hiện nay là 600đ/lít thì chúng tôi vẫn còn lãi 100đ/lít”. Cũng theo lãnh đạo DN đầu mối này, trường hợp sắp tới nếu giá xăng nhập khẩu tăng lên 85 USD/thùng thì DN kinh doanh xăng mới lỗ khoảng 200đ/lít.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  2. #22
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Nhà nước phải quyết và can thiệp giá "XĂNG, DẦU"

    Ông Ngô Trí Long, nguyên viện phó Viện Nghiên cứu thị trường giá cả. Ông Long cho biết: Tôi có nghe khẳng định của đại diện Ủy ban Giám sát tài chính tiền tệ quốc gia về việc giá xăng VN cao hơn giá thế giới 5%. Tôi cũng đã xem kỹ khẳng định của cục phó Cục Quản lý giá Nguyễn Thanh Hương. Sau tết, ngay sau khi giá xăng tăng ngày 21-2, thói quen của người lâu năm nghiên cứu giá cả, tôi đã tính giá xăng của Mỹ.
    Thời điểm đó, giá xăng của Mỹ là 3 USD/gallon (1 gallon bằng 3,8 lít). Sau khi quy đổi ra tiền VN, nếu theo tỉ giá của thị trường tự do là 19.500 đồng/USD, giá xăng của Mỹ cũng chỉ 15.300 đồng/lít. Giá của VN là 16.990 đồng/lít thì cao hơn giá xăng của Mỹ gần 2.000 đồng/lít. Đây là một thực tế. Số liệu giá xăng của Mỹ bây giờ công khai trên mạng, chỉ việc tải xuống và tính.
    Tôi nghĩ Cục Quản lý giá có thể so với nhiều nước như Lào, Campuchia hay Thái Lan nhưng theo tôi, Mỹ là một nền kinh tế thị trường quan trọng, nên cần thiết phải so cả với Mỹ để dư luận được thông tin nhiều chiều, có thể đánh giá một cách khách quan hơn.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  3. #23
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Lãi suất trên 18%, người vay lắc đầu

    Một số ngân hàng cho biết sau khi áp dụng lãi suất thỏa thuận khi cho vay vốn trung và dài hạn, một số khách vay vốn để đầu tư sản xuất đã lắc đầu khi ngân hàng đưa ra mức lãi suất vay trên 18%/năm.
    Theo NH Nhà nước, trong tuần qua, khi được thỏa thuận lãi suất cho vay trung - dài hạn, các NH đã tăng lãi suất cho vay, dao động quanh 12-14%/năm, trong đó NH cổ phần từ 15-17%/năm. Cũng có NH đưa ra lãi suất 18%/năm. Tuy nhiên, khá nhiều NH thừa nhận với mức lãi suất trên 17-18%/năm là vượt quá sức chịu đựng của doanh nghiệp.
    Tuy nhiên, tình hình cũng không quá bi quan vì thời gian đầu khi áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cao là chuyện khó tránh khỏi. Xu hướng chung là lãi suất sẽ giảm dần vì các NH phải cạnh tranh với nhau. Có cơ sở để cho rằng mặt bằng lãi suất cho vay trung - dài hạn sẽ giảm dần. Theo NH Nhà nước, hiện nguồn vốn của các NH đã dồi dào nên việc cho vay đang được tích cực đẩy ra bắt đầu từ tháng 3-2010 bằng việc kéo giảm lãi suất cho vay.
    Ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc NH Á Châu (ACB), cho biết ACB đang thừa trên 30.000 tỉ đồng. Lãi suất cho vay trung - dài hạn ở ACB sẽ ở mức 15-16,5%/năm, trong đó sẽ kéo dài thời hạn cho vay từ 7 năm lên 10 năm. Theo ông Hải, trong điều kiện hiện nay, lãi suất 15-16,5%/năm doanh nghiệp có thể chấp nhận được. Tại NH Sài Gòn Thương Tín, doanh nghiệp sử dụng nhiều dịch vụ NH được vay theo lãi suất 15%/năm, trường hợp khác cao nhất 17%/năm.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  4. #24
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Giá dầu, vàng thế giới tiếp tục giảm nhẹ do dự báo lạm phát

    Trong phiên giao dịch sáng 12-3, giá dầu và giá vàng tiếp tục giảm nhẹ do các nhà đầu tư dự báo Trung Quốc sẽ thắt chặt kiểm soát tín dụng do tình trạng lạm phát gia tăng. Hãng tin Reuters cho biết sáng 12-3, trên sàn giao dịch New York, giá dầu cũng giảm 20 cent xuống còn 81,89 USD/thùng. Trước đó, trong phiên giao dịch hôm qua, giá dầu giao tháng 4-2010 giảm xuống còn 81,99 USD/thùng, thấp hơn khá nhiều so với mức cao nhất trong vòng tám tuần qua 83,03 USD/thùng.
    Trong khi đó, giá vàng trên thị trường New York hôm nay cũng giảm nhẹ 65 cent xuống còn 1.107,1 USD/ounce. Hôm qua, giá vàng cũng giảm 6,4 USD, tương đương gần 0,6%, xuống còn 1.106,4 USD/ounce (28,35 gram). Một ngày trước đó, giá vàng giảm tới 1,3%.
    Theo AFP, ngày 11-3 Tổng cục Thống kê Trung Quốc cho biết chỉ số giá tiêu dùng nước này tăng tới 2,7% trong tháng hai, cao hơn nhiều so với mức tăng 1,5% của tháng 1-2010. Con số này khiến giới đầu tư lo ngại Bắc Kinh sẽ tăng cường các biện pháp thắt chặt tài khóa để ngăn chặn nguy cơ lạm phát.
    Từ tháng 12-2009, chính quyền Trung Quốc đã yêu cầu các ngân hàng tăng dự trữ tiền mặt lên gấp ba lần nhằm hạn chế số lượng tiền các ngân hàng có thể cho vay. Số liệu từ Tổng cục Thống kê Trung Quốc cho thấy lượng tiền cho vay mới trong tháng hai giảm mạnh xuống còn 700 tỉ NDT (102 tỷ USD), so với mức 1,39 nghìn tỷ NDT (203,6 tỷ USD) của tháng một.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  5. #25
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Kiềm chế lạm phát 2010 - thực sự khó khăn.

    Thứ nhất, đây là hiện tượng thường thấy nhất trong khoảng thời gian diễn ra Tết Nguyên đán của mỗi năm. Cụ thể, trong 17 năm đó, trong khi chỉ có 4 năm có mức tăng giá bình quân của hai tháng này trên 2%/tháng (hai năm 1994-1995 và gần đây nhất là hai năm 2008-2009) và cũng là bốn năm có tổng mức tăng giá tiêu dùng cả năm vượt qua ngưỡng hai con số, thì 13 năm còn lại đều có mức tăng dưới ngưỡng 2%/tháng (dao động trong khoảng 0,35-1,90%/tháng) và đồng thời cũng là 13 năm có tổng mức tăng giá tiêu dùng cả năm nằm dưới ngưỡng hai con số.
    Thứ hai, không những vậy, điều còn đáng chú ý hơn rất nhiều là, trong số 13 năm có mức tăng giá bình quân của hai tháng này theo “thông lệ” và cũng có tổng mức tăng giá tiêu dùng cả năm nằm dưới ngưỡng hai con số, thì có tới sáu năm giá tiêu dùng cả năm tăng ở mức “lý tưởng” đối với nền kinh tế nước ta.
    Thứ ba, tuy vẫn theo “thông lệ” trong hai tháng đầu năm đó, nhưng thực tế còn cho thấy hai hiện tượng hoàn toàn trái ngược nhau, cho nên chúng ta cũng không thể không cảnh giác trong việc thực hiện mục tiêu kiềm chế giá tiêu dùng ở ngưỡng 7% trong năm nay.
    Trong đó, nếu như giá tiêu dùng trong hai tháng đầu năm 1999 và 2000 cũng chỉ tăng 1,80%/tháng và 1,00%/tháng, nhưng đây chính là hai trong số ba năm ít ỏi được coi là sốt lạnh của nền kinh tế nước ta với mức tăng cả năm chỉ là 0,10%, thậm chí giảm 0,60%), trong khi mức tăng bình quân trong hai tháng đầu năm 2007 rất gần đây cũng chỉ là 1,61%/tháng, nhưng cả năm lại tăng tới 12,63%, tức là chỉ kém kỷ lục 19,89% của năm 2008 trong vòng 18 năm trở lại đây.
    Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, chỉ trừ một số “biệt lệ”, giá tiêu dùng hai tháng đầu năm có Tết Nguyên đán trong mỗi năm đều tăng cao, cho dù giá cả 10 tháng sau đó là như thế nào. Nguyên nhân của tình trạng “đến hẹn” lại tăng cao như vậy của giá tiêu dùng hoàn toàn không có gì “bí hiểm” đối với tất cả những người VN chúng ta từ hàng chục năm nay. Đó là nhu cầu tiêu dùng tăng đột biến khiến giá cả cũng tăng đột biến mỗi khi Xuân về, Tết đến.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  6. #26
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Bất cập quản lý xăng dầu và gas

    Hai chính sách khác nhau nhưng đang tạo nên một thực trạng chung là bất ổn cho cả hai thị trường.

    Xăng dầu và gas là hai mặt hàng mang tính nhạy cảm cao của đời sống, đồng thời có sự tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế. Trên nhiều khía cạnh, hai mặt hàng này có nhiều điểm tương đồng nhưng lâu nay lại được tách thành hai nhóm mặt hàng và có hai cách quản lý thị trường khác nhau. Có điều, cả hai cơ chế quản lý đều có nhiều điểm bất hợp lý dẫn đến cả hai thị trường cùng có chung một trạng thái bất ổn.
    Gas: Loạn do thiếu cơ chế:Nếu như thị trường xăng dầu luôn có cơ chế điều hành do Chính phủ ban hành và một Tổ điều hành thị trường theo dõi khá sát, ra quyết định cụ thể cho mỗi lần tăng giá và điều chỉnh thuế. Ngược lại, thị trường gas lại gần như bị thả nổi và mãi gần đây mới có Nghị định số 107/2009/NĐ-CP điều chỉnh nhưng phải đến 15/1/2010 mới có hiệu lực. Điều này, khiến thị trường gas từ trước tới nay khá hỗn loạn do thiếu cơ chế quản lý. Hậu quả dễ thấy là giá gas luôn tăng giá quá mức mỗi khi giá nhập khẩu biến động. Trong mấy tuần gần đây, dù giá gas nhập khẩu chỉ tăng nhẹ lên mức 18.600 đồng/kg nhưng giá gas đã được đẩy 270 - 300 ngàn đồng/bình 12 - 13kg.
    Qua thanh tra về giá tại 6 DN kinh doanh gas lớn của Bộ Tài chính cho thấy, sự hỗn loạn của thị trường gas là hậu quả của đầu cơ, lũng đoạn trong khi hệ thống chính sách quản lý đã không đủ để kiểm soát. Từ năm 2007, Tổng công ty Khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam được thành lập nhằm can thiệp, ổn định thị trường thông qua cung cấp gas bán buôn cho DN. Tuy nhiên, điều này không thành công do giá gas trong nước tuy thấp hơn giá nhập khẩu nhưng chỉ thấp hơn 0,3 - 0,7%. Với mức giảm quá thấp, 30% nguồn cung trong nước chủ động đã không đủ sức bình ổn giá.

    Thị trường gas Việt Nam hiện có tới 30 DN đầu mối. Tuy nhiên, do đa số là các DN nhỏ nên năng lực, quy mô kho chứa rất nhỏ, dưới 1000 tấn. Vì thế, DN chủ yếu nhập khẩu nhỏ lẻ, từ nhiều nhà cung cấp khác nhau nên hoàn toàn phụ thuộc vào giá gas thế giới. Do đó, khi giá gas thế giới tăng nhanh, giá thành biến động, các DN lập tức tăng giá, đẩy bất lợi về phía người tiêu dùng. Cũng vì thiếu năng lực, các DN hầu như không có hoặc có rất ít các cửa hàng bán lẻ trực tiếp nên phải thông qua hệ thống tổng đại lý, đại lý, cửa hàng bán lẻ với hợp đồng mua đứt - bán đoạn. Các DN chỉ quản lý giá bán tới các tổng đại lý, giá bán lẻ tới người tiêu dùng do các đại lý, các cửa hàng bán lẻ tự quy định. Các đại lý, thực chất là các hộ kinh doanh cá thể, bán nhiều loại gas cho các hàng khác nhau, không thực hiện niêm yết giá... Điều này, khiến cho thị trường gas càng thêm khó kiểm soát giá.

    Theo thanh tra Bộ Tài chính, gas là một trong mặt hàng kinh doanh có điều kiện nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản pháp quy nào đủ “tầm” quản lý và điều hành về xuất nhập khẩu và kinh doanh mặt hàng này. Cụ thể, hiện vẫn chưa có quy định nào về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện nạp gas về hạ tầng, an toàn, nhân lực. Thậm chí chất lượng sản phẩm gas, chất lượng và quản lý vỏ bình gas lưu thông trên thị trường cũng chưa có. Kể cả khi Nghị định số 107/2009/NĐ-CP có hiệu lực vào 15/1/2010, nhiều chuyên gia vẫn lo ngại nó chưa đủ mạnh để khiến thị trường gas đi vào trật tự vì còn sơ sài.
    Xăng dầu: Lúng túng
    Nghị định số 84/2009/NĐ-CP để thay thế nghị định 55/NĐ-CP về điều hành giá bán lẻ xăng dầu đã quyết định thả nổi giá xăng dầu, giao quyền định giá về cho DN. Tuy nhiên, về cơ bản lại không có thay đổi lớn, vẫn thể hiện sự quá cứng nhắc về điều kiện để DN tham gia thị trường như phải đăng ký hạn ngạch nhập khẩu hàng năm, kho bãi... Điều này, khiến các DN tư nhân rất khó vào thị trường xăng dầu. Và xăng dầu vẫn bị chi phối của vài DN lớn.
    Theo ông Vũ Đình Ánh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học Thị trường giá cả, nếu bỏ hạn ngạch nhập khẩu sẽ tạo điều kiện cho các DN được cạnh tranh bình đẳng, và sẽ có được mức giá xăng dầu thấp nhất.
    Theo ông Ánh, nên tách khâu nhập khẩu, bán buôn xăng dầu với khâu bán lẻ: Các DN nhập khẩu xăng dầu không được lập hệ thống bán lẻ của riêng mình; DN đầu mối phải bán hàng và đối xử bình đẳng với mọi thương nhân bán lẻ xăng dầu. Các thương nhân, được quyền chọn DN đầu mối cấp hàng cho mình và cạnh tranh với nhau qua việc đưa ra mức giá bán lẻ thấp nhất. Đây là mô hình của thị trường gas nhưng lại có thể áp dụng thành công với thị trường xăng dầu.
    Chính vì thế, các chuyên gia cho rằng, chính sách mới vẫn chưa làm thay đổi cung cách điều hành thị trường, thiếu lực lượng cạnh tranh mới khiến cho sự phản ứng của DN và cơ quan quản lý vẫn rất chậm chạp. Dễ thấy là trong 2 tuần gần đây, giá xăng dầu thế giới đã giảm và các DN đầu mối nhập khẩu cho rằng đã có thể giảm giá nhưng khi Bộ Tài chính chưa có tác động nào, các DN không vội giảm giá.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  7. #27
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định 'Bỏ trần lãi suất huy động, thị trường tiền tệ có thể rối loạn'

    PGS, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân, Thành viên hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ của Chính phủ, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP HCM:
    Trong tình hình hiện nay, cơ chế lãi suất trần không còn phù hợp với thực tế. Do đó, Ngân hàng Nhà nước cần phải thay đổi cơ chế cũ bằng một cơ chế mới, nếu không sẽ gây ra sự đè nén, kiềm chế sự phát triển kinh tế cũng như làm cho sự lưu thông tiền tệ có những tắc nghẽn và biến tướng khó kiểm soát.
    Một trong những thay đổi cần thiết tại thời điểm này là cơ chế điều hành. Thứ nhất về cơ chế cho vay, Ngân hàng Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc cho vay thỏa thuận đối với trung và dài hạn mà phải mở nút thắt cho vay ngắn hạn. Điều này sẽ hạn chế tối đa những biến tướng như việc ngân hàng tìm cách lách luật chuyển đổi những hợp đồng cho vay ngắn hạn thành cho vay dài hạn, làm cho thị trường bị méo mó, khó kiểm soát.
    Trong thời gian tới, nếu Ngân hàng Nhà nước mở hoàn toàn cơ chế cho vay ngắn hạn sẽ giúp hài hòa lợi ích cả người vay lẫn ngân hàng. Các ngân hàng cũng sẽ không dám cạnh tranh đẩy lãi suất cho vay lên cao vì chẳng đơn vị nào muốn mất hết khách hàng. Việc thực hiện lãi suất cho vay theo thỏa thuận sẽ góp phần tạo ra một cơ chế lãi suất thích hợp với bối cảnh thực tế hiện nay, góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn, đồng thời ngân hàng cũng có lãi.
    Riêng với lãi suất huy động, tuyệt đối không được bỏ trần trong thời gian này. Bởi tình hình thị trường tiền tệ của Việt Nam hiện nay chưa thực sự ổn định. Một số ngân hàng thương mại nhỏ vẫn sẵn sàng vi phạm các định chế pháp luật.
    Mặt khác, còn rất nhiều nhà băng nhỏ đang thiếu thanh khoản, đang tìm cách lách luật trong việc sử dụng nguồn vốn huy động bổ sung vào vốn điều lệ để đáp ứng con số 3.000 tỷ đồng theo quy định của Nhà nước... Không chỉ thế, những ngân hàng nhỏ một mặt huy động vốn với lãi suất cao, tìm cách bổ sung vào vốn điều lệ, mặt khác để duy trì lợi nhuận buộc họ phải đẩy mạnh cho vay những dự án phiêu lưu mạo hiểm như bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng... với lãi suất cao 19%, thậm chí 20%. Rủi ro mất trắng rất cao và nguy cơ phá sản sẽ khó tránh khỏi.
    Cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, vốn hiện nay hoàn toàn không thiếu mà thị trường chỉ thực sự khát vốn lãi suất thấp. Với các nguồn vốn vay lãi suất cao 17-18% thì doanh nghiệp cần bao nhiêu cũng có.
    Chính sách tiền tệ phải phụ thuộc rất lớn vào thể trạng của từng hệ thống ngân hàng thương mại. Ngay cả ngân hàng Trung Quốc, đến nay họ vẫn duy trì trần lãi suất huy động để tránh tình trạng cạnh tranh vô tội vạ muốn hút vốn của các ngân hàng với nhau.
    Do đó, nếu Ngân hàng Nhà nước dỡ trần lãi suất huy động trong thời điểm này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng nhỏ chạy đua lãi suất huy động, có thể lên tới 14 - 15%..., khiến các "ông lớn" lớn đang duy trì lãi suất tiền gửi ổn định vì không muốn mất khách hàng sẽ lao vào cuộc đua. Ngược lại, nếu không đua sẽ bị khan vốn và buộc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm vốn vào. Như vậy, vô hình trung sẽ thổi bùng ngọn lửa lạm phát và gây ra sự hỗn loạn cho hệ thống tiền tệ. Và kịch bản tồi tệ của năm 2008 có thể lặp lại, khi đó lãi suất cho vay bị đẩy lên cao kỷ lục 21-22% một năm khiến doanh nghiệp điêu đứng và trở thành chủ đề tranh luận gay gắt trên diễn đàn Quốc hội.
    Tất cả những vấn đề trên bắt buộc Ngân hàng Nhà nước không thể bỏ trần lãi suất huy động ngay thời gian này. Tuy nhiên, cũng không thể duy trì mức trần lãi suất thấp 10,5 % như hiện nay sẽ không phù hợp với mặt bằng giá cả, không phù hợp với tình hình về lạm phát và thực tế tiền tệ của Việt Nam.
    Do vậy, việc nới biên độ trần lãi suất phải được điều chỉnh ngay. Mức trần được coi là hợp lý nhất hiện nay sẽ là 12%. Với mức này, các ngân hàng không chỉ đảm bảo huy động được nguồn vốn mà cho vay với mức hợp lý 15 - 16% vẫn có lãi, trong khi doanh nghiệp cũng có thể chấp nhận được. Đây chính là bài toán dung hòa lợi ích của người gửi tiền, người vay tiền cũng như trung gian cho vay tài chính
    Một khi trần huy động được nâng lên 12% một năm, điều này có nghĩa "nhà băng mẹ" sẵn sàng bơm vốn cho các ngân hàng thương mại ở mức này nếu bị thiếu thanh khoản, Vậy thì các nhà băng cũng không dại gì phải đẩy vốn huy động vượt quá mức đó. Lúc này, trần huy động còn có vai trò giúp các ngân hàng xây dựng mức lãi suất hợp lý.
    Nhiều ý kiến cho rằng, hiện nay mức lãi suất cao là vì nhu cầu của thị trường cao. Hơn nữa, việc xác lập mặt bằng lãi suất cao sẽ giúp loại bỏ những dự án vay không hiệu quả, đồng thời tăng nguồn vốn cho những dự án kinh doanh sản xuất hiệu quả. Điều này khó xảy ra. Một ví dụ cụ thể, nếu một dự án được cho là hiệu quả nhưng mức sinh lời chỉ 18%, doanh nghiệp chỉ có thể chấp nhận mức lãi suất dưới 18%, trong khi dự án khác sinh lời 20% (nhưng độ rủi ro cao hơn) thì mức lãi suất họ chịu đựng được có thể là 18%, 19%. Tất nhiên ngân hàng sẽ cho vay đối với dự án chịu lãi suất cao hơn.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  8. #28
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Thực trạng đô la hoá ở nước ta.

    Hiện tượng nền kinh tế Việt Nam sử dụng rộng rãi đồng đô la Mỹ trong giao dịch buôn bán... bắt đầu được chú ý đến từ năm 1988 khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi bằng đồng đô la. Đến năm 1992, tình trạng đô la hoá đã tăng lên mạnh với hơn 41% lượng tiền gửi vào các ngân hàng là bằng đô la USD. Trước tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cố gắng đảo ngược quá trình đô la hoá nền kinh tế và đã khá thành công khi giảm mạnh mức tiền gửi bằng USD vào các ngân hàng xuống còn 20% vào năm 1996. Nhưng tiếp theo đó cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã khiến cho đồng tiền Việt Nam giảm giá trị, và Việt Nam lại tiếp tục chịu sức ép của tình trạng đô la hoá. Đến cuối năm 2001, tỷ lệ đồng USD được gửi vào các ngân hàng tăng lên đến 31,7%. Tỷ lệ này có xu hướng giảm đáng kể trong những năm tiếp theo, đến năm 2003 còn 23,6% và 9 tháng đầu năm 2004 là 22%. Đây là xu hướng tích cực, cho thấy tình trạng đô la hoá tài sản nợ trong hệ thống ngân hàng thương mại đang được kiềm chế một cách có hiệu quả. Người dân đã có niềm tin vào đồng tiền nội địa nhiều hơn. Tuy nhiên về số tiền gửi tuyệt đối bằng đô la thì không ngừng tăng lên, hiện nay đã đạt số 7 tỷ USD. Con số này một mặt cho thấy tiềm lực nguồn vốn nhàn rỗi trong dân mà hệ thống ngân hàng có thể huy động được cho đầu tư phát triển kinh tế, những mặt khác cũng đáng quan tâm ở góc độ đô la hoá.

    Trái với xu hướng biến đổi của cơ cấu tiền gửi, tỷ trọng dư nợ cho vay bằng đô la Mỹ so với tổng dư nợ và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại lại có xu hướng tăng lên, cao hơn cả tiền gửi đô la. Đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh, dư nợ cho vay bằng đô la Mỹ cuối tháng 9 năm 2004 đã tăng gấp 2 lần số dư cuối năm 2002.
    Thông qua việc quan sát niêm yết giá và bán hàng hoá, dịch vụ thu ngoại tệ hiện nay, quan sát giao dịch mua bán ngoại tệ của dân cư tại nhiều cửa hàng vàng bạc quy mô lớn ở Hà Nội, thông tin ghi nhận được từ các giao dịch kinh tế ngầm... có thể thấy mức độ sử dụng đô la Mỹ trong xã hội nước ta rất đáng quan tâm. Có thể nói Việt Nam là một nền kinh tế bị đô la hoá một phần. Tuy vậy, mức độ chính xác của đô la hoá là số liệu rất khó xác định.Trong một số năm khi lãi suất tiền gửi đồng đô la ở các ngân hàng nước ngoài ở mức cao, để sử dụng những đồng tiền đô la mà người dân đã gửi vào ngân hàng, các ngân hàng trong nước đã đem phần lớn nguồn đô la gửi ra các ngân hàng nước ngoài, chủ yếu là ở Singapore và Hồng Công, để kiếm lãi suất cao. Điều này có tác động xấu bởi vì những đồng đô la đó đã không được sử dụng để đầu tư trong nước.
    Đến năm 1992, lãi suất đồng đô la giảm mạnh, các ngân hàng Việt Nam không còn thu lời được từ các tài khoản ở nước ngoài nên đành rút một lượng lớn tiền về, con số đó khoảng từ 3 đến 4 tỷ USD. Lượng tiền gửi ở nước ngoài giảm đi chỉ còn một nửa tính đến thời điểm cuối năm 2003.
    Sau khi rút tiền đô la từ ngân hàng nước ngoài về, các ngân hàng Việt Nam bắt đầu cho các doanh nghiệp trong nước vay bằng đồng đô la để sinh lợi. Tính đến cuối năm 2003, khoản tiền được các ngân hàng cho vay bằng đô la đã chiếm quá nhiều 28%.
    Nếu nhìn về hình thức bên ngoài thì điều này có vè yên ổn đối với các ngân hàng, bởi vì họ nhận tiền gửi và cho vay đều bằng ngoại tệ nên có ít rủi ro. Nhưng nếu xem xét kỹ, chúng ta nhận thấy các doanh nghiệp đi vay sẽ gặp khó khăn khi đồng tiền Việt Nam bị giảm giá. Các doanh nghiệp này chủ yếu có doanh thu bằng đồng Việt Nam, nhưng họ phải trả nợ bằng đồng USD. Họ phải đứng trước các rủi ro về thay đổi tỷ giá giữa đồng USD và đồng tiền Việt Nam mà không có những công cụ để phòng tránh rủi ro.
    Nếu đồng đô la tăng giá, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sợ mất khả năng thanh toán nợ. Khi đó các ngân hàng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng và từ đó dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
    Nhưng trong thời điểm hiện tại, đang diễn ra tình trạng đồng đô la Nỹ bị sụt giá nhanh chóng. Tỷ giá hối đoái của đô la với Euro trong 4 năm qua đã sụt giảm 40%, riêng năm 2003 sụt giá 20%, các nhà quan sát cho rằng đồng đô la Mỹ còn tiếp tục sụt giá với mức độ nghiêm trọng hơn trong thời gian tới vì các lý do sau: nước Mỹ đang bị thâm hụt ngân sách nặng nề (459 tỷ USD, bằng 3,8% tổng GDP của cả nước); tổng số nợ của Chính phủ Mỹ trong năm tài chính 2004 là 7.586 tỷ USD (bằng 67,3% GDP cả nước) vượt quá mức báo động quốc tế; thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai năm 2003 tăng vọt lên đến 530,7 tỷ USD; lượng đầu tư nước ngoài vào Mỹ giảm sút nghiêm trọng, trong năm 2003 giảm 44,9% so với năm 2002. Những vấn đề trên đã trở thành áp lực lớn làm cho đồng đô la sụt giá. Đồng thời mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với thế giới A rập xấu đi, làm cho một loạt nước xuất khẩu dầu mỏ Trung Cận Đông đã giảm bớt cất giữ và sử dụng đô la, mà chuyển qua sử dụng đồng Euro nhiều hơn trong thanh toán quốc tế và dự trữ ngoại tệ. Hơn nữa Liên bang Nga và một số nước khác cũng đã và đang có hành động tương tự. Tất cả những điều này gây thêm sức ép đối với đồng đô la Mỹ, làm tăng khả năng sụt giá của đồng đô la.
    Vấn đề đặt ra là nếu đồng đô la Mỹ tiếp tục sụt giá mạnh thì những thiệt hại gì sẽ xẩy ra, giả sử mức sụt giá là 20%, hệ quả tất yếu là thu ngoại tệ về xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tính bằng đô la của tất cả các nước trên thế giới đều bị thiệt hại theo tỷ lệ tương ứng. Ngoài ra, kim ngạch dự trữ ngoại tệ và lượng vốn FDI của tất cả các nước tính bằng đô la cũng sẽ tự nhiên hao hụt tương ứng. Vốn liếng kinh doanh, tiền tiết kiệm, tiền lương, quỹ hưu trí, bảo hiểm, phúc lợi xã hội tính bằng đô la của tất cả mọi người có liên quan đều phải chịu thiệt hại. Ngược lại, các khoản phải trả về nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ chưa thanh toán, các khoản nợ vay nước ngoài bao gồm tiền gốc và lãi chưa trả tính bằng đô la đều mặc nhiên được giảm bớt tương ứng với tỷ lệ sụt giá của đồng đô la.
    Như vậy, việc sử dụng đồng đô la như thế nào cho có hiệu quả là một vấn đề vô cùng phức tạp. Mặc dù những cách ngân hàng đã sử dụng đồng đô la cũng có một mặt tích cực nào đấy, nhưng cần phải có cách lựa chọn đúng đắn hơn là thực hiện những giải pháp kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá, tiến tới thực hiện trong nước chỉ có một đồng tiền duy nhất được lưu hành là đồng tiền Việt Nam.
    Trong thực tế, chúng ta thấy rõ một số nền kinh tế thành công không bị đô la hoá, như tại Trung Quốc, các ngân hàng không được phép quyết định lãi suất tiền gửi bằng đô la.
    Thông thường đô la hoá diễn ra khi đồng tiền của một nước bị đánh giá là yếu kém, và đồng đô la được coi là phương tiện dự trữ có giá trị. Tuy nhiên, không phải bất cứ quốc gia nào có đồng tiền yếu đều bị đô la hoá trực tiếp. Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế tương tự Việt Nam như ở Trung Quốc, Thái Lan, Braxin... không cho phép thanh toán các loại hàng hoá dễ dàng bằng đồng đô la. Chính việc cho phép sử dụng gần như hợp pháp hoá đồng USD tại Việt Nam để mua các loại hàng hoá như bất động sản, mặt hàng điện tử, xe cộ, phí khách sạn... đã làm tăng quá trình đô la hoá. Như trên đã phân tích, nếu tình hình không sớm được kiềm chế và đẩy lùi, có khả năng sẽ dẫn đến tình trạng khủng hoảng tài chính vào một thời điểm nào đấy, thật là vô cùng nguy hiểm.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  9. #29
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Một số giải pháp kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá ở nước ta

    Đô la hoá là tình trạng khó tránh khỏi đối với các nước có xuất phát điểm thấp, đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế như Việt Nam. Tâm lý lo ngại về lạm phát, về sự mất giá của đồng nội tệ, thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch... không thể một sớm, một chiều xoá bỏ hay giảm triệt để được.
    Quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ và ngân hàng Trung ương trong vấn đề đô la hoá là rất rõ ràng: xoá bỏ đô la hoá trong nền kinh tế - xã hội nước ta phải được thực hiện từng bước, từng khâu thích ứng với từng giai đoạn đổi mới, phát triển của đất nước; phải bằng nhiều giải pháp vừa kinh tế, vừa hành chính kết hợp với giáo dục pháp luật, điều chỉnh tâm lý xã hội trong lộ trình thực thi nhiều cơ chế kinh tế nghiệp vụ ngân hàng cụ thể nối tiếp nhau, để nâng vị thế của đồng tiền Việt Nam trong các chức năng thuộc tính của tiền tệ.
    Nghị quyết IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 8) trong phần đề cập những chủ trương chính sách lớn, riêng trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng một lần nữa khẳng định yêu cầu "Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguyên tắc trên đất nước Việt Nam phải thanh toán bằng tiền Việt Nam".
    Việc xoá bỏ đô la hoá không thể xử lý theo quan điểm xoá bỏ sạch trơn, phủ định tất cả. Trong giai đoạn hiện nay cần cố gắng khai thác mặt lợi, thu hút vốn đô la trong dân vào hệ thống ngân hàng, đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội. thị trường ngoại tệ và hoạt động kinh doanh tiền tệ ở nước ta đang hội nhập với thị trường tiền tệ quốc tế. Nói kiềm chế, đẩy lùi và hạn chế các mặt tiêu cực, có nghĩa là chúng ta chấp nhận sự tồn tại của đô la hoá ở những mặt tích cực khách quan. Điều quan trọng nhất là Nhà nước phải giữ vai trò chủ động để điều chỉnh hiện tượng đô la hoá; nhất quyết phải có các giải pháp hành chính - kinh tế - giáo dục đồng bộ để triệt tiêu các mặt tiêu cực của đô la hoá. Chúng ta không thể sử dụng lại các biện pháp hành chính đã từng áp dụng lại các biện pháp hành chính đã từng áp dụng trong những thời gian trước đây như là: tăng tỷ lệ kết hối lên 100%, không cho nhận kiều hối bằng ngoại tệ, không nhận tiền gửi ngoại tệ hoặc hạ thấp lãi suất tiền gửi ngoại tệ, chỉ cho phép doanh nghiệp được mở tài khoản ngoại tệ tại một ngân hàng... Những biện pháp hành chính này qua thực tiến thực hiện đã chứng tỏ là chúng gây khó khăn cho các doanh nghiệp, không khuyến khích nguồn kiều hối chuyển về nước, và không phù hợp với xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới. Do đó, để giữ được những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đô la hoá, có thể thực hiện một số giải pháp sau đây:
    (1) Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn ngoại tệ hiện có trong dân bằng những biện pháp :
    • Thúc đẩy phát triển môi trường kinh tế vĩ mô, tạo môi trường cạnh tranh thực sự giữa các thành phần kinh tế trong cả sản xuất, thương mại, dịch vụ và kể cả lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
    • Mở rộng các dự án đầu tư của Chính phủ: dầu khí, cầu đường, điện lực... khuyến khích sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế.
    • Phát triển các công cụ tài chính như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, đa dạng hoá các danh mục đầu tư trong nước.
    Thay cho dự kiến phát hành trái phiếu ngoại tệ trên thị trường quốc tế, bằng việc mở rộng phát hành trái phiếu ngoại tệ ở trong nước, huy động vốn đô la ở trong dân.
    (2) Những giải pháp trong lĩnh vực tiền tệ
    • Cần tiếp tục cơ cấu tích cực mệnh giá đồng Việt Nam, phát triển dịch vụ ngân hàng và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Đẩy mạnh tuyên truyền về sử dụng thẻ, kể cả thẻ tín dụng quốc tế.
    • Thay cho việc chỉ gắn với đồng đô la Mỹ như trước đây, tỷ giá ngang giá nên gắn với một "rổ" tiền tệ (bao gồm một số ngoại tệ mạnh như USD, EURO, JPY và một số đồng tiền của các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc...), các đồng tiền này tham gia vào "rổ" tiền tệ theo tỷ trọng quan hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam. Việc xác định tỷ giá như trên nhằm giảm bớt sự lệ thuộc của đồng Việt Nam vào đô la Mỹ, và phản ánh xác thực hơn quan hệ cung cầu trên thị trường trên cơ sở có tính đến xu hướng biến động các đồng tiền của các nước bạn hàng lớn.
    • Các ngân hàng chỉ được phép cho vay đồng USD đối với những đối tượng có doanh thu trực tiếp và có khả năng chi trả bằng đồng USD. Còn tất cả các dnb trong nước khác vay các ngân hàng thương mại trong nước đều thực hiện bằng đồng bản tệ, khi cần ngoại tệ để thanh toán với quốc tế thì mua ngoại tệ tại thị trường hối đoái để mở LC thanh toán.
    • Không được duy trì quyền sở hữu ngoại tệ không có nguồn gốc hợp pháp. Cần có quy chế rõ ràng rằng sở hữu ngoại tệ của dân cư là sở hữu ngoại tệ hợp pháp chuyển từ nước ngoài vào; không cho phép sở hữu số ngoại tệ có được do sự trao đổi lòng vòng ở chợ đen, rồi biến số đó thành sở hữu riêng.
    • Sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ (như lãi suất, dự trữ bắt buộc...) để tác động đến điều kiện thị trường nhằm làm cho đồng Việt Nam hấp dẫn hơn đô la Mỹ. Qua đó hạn chế xu hướng chuyển đổi từ đồng Việt Nam sang đô la Mỹ. Trong điều kiện hiện nay, lãi suất cơ bản không thay đổi, Ngân hàng Nhà nước có thể thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu nhằm phát tín hiệu để các ngân hàng thương mại tăng lãi suất huy động đồng Việt Nam.
    (3) Cần nhất quán chủ trương quản lý lưu hành ngoại tệ theo hướng "Trên đất nước Việt Nam chỉ chi trả bằng đồng Việt Nam". Muốn vậy, cần có các quy định về việc sử dụng ngoại tệ của cá nhân như sau:
    • Chi trả bằng ngoại tệ ở Việt Nam, bao gồm tiền mặt hay chuyển khoản cũng không được phép, trừ duy nhất trường hợp trả chuyển khoản cho các tổ chức kinh doanh được Ngân hàng Nhà nước cho phép tiếp tục thu ngoại tệ.
    Việc chi trả cho người hưởng trong nước các khoản tiền như kiều hối, tiền lương, thu nhập từ xuất khẩu lao động... bằng ngoại tệ tiền mặt theo yêu cầu cũng nên chấm dứt. Việc này chỉ thực hiện bằng tài khoản tiền gửi ngoại tệ hoặc chi trả bằng tiền Việt Nam.
    • Cá nhân có tài khoản ngoại tệ gửi tại ngân hàng thương mại chỉ rút ra bằng tiền mặt ngoại tệ để cất giữ riêng hoặc để đưa đi nước ngoài chi tiêu.
    • Ngăn chặn và giảm dần các hoạt động kinh tế ngầm, kiểm soát chặt chẽ tình trạng buôn lậu, tình trạng bán hàng thu ngoại tệ trong nước. Cần có biện pháp hạn chế đến mức tối đa việc lưu thông và sử dụng đô la Mỹ, niêm yết giá bằng đô la Mỹ trên thị trường Việt Nam.
    Quá trình kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá thành công là một tiền để cần thiết để Việt Nam có được một cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn. Với sự mở cửa của khu vực tài chính trong những năm tới. và sự tự do hoá giao dịch tài khoản vốn, việc đạt được mục tiêu kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá là việc làm rất khó khăn. Muốn làm được cần phải có thời gian và có quyết tâm cao. Điều quan trọng là những mặt tích cực mang lại lợi ích của hiện tượng đô la hoá trên thị trường Việt Nam không bị xoá bỏ, nó tồn tại đan xen trong cơ chế thị trường mở cửa và hội nhập, được sử dụng như một giải pháp bổ sung trong chính sách tiền tệ tích cực của đất nước trong giai đoạn mới, còn những mặt tiêu cực của đô la hoá thì cần phải được kiềm chế, đẩy lùi và xoá bỏ.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  10. #30
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Cung - cầu ngoại tệ của nền kinh tế:

    Gần đây trên thị trường xuất hiện tin đồn về sự mất cân đối cung, cầu ngoại tệ khiến tỷ giá USD/VND tăng đột ngột. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng vẫn bảo đảm an toàn, có khả năng đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ đến hạn và thỏa mãn hầu hết các nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế. Do đó, người dân và doanh nghiệp cần hết sức thận trọng với các thông tin bất đối xứng hoặc lời đồn đoán thiếu căn cứ để không phải gánh chịu rủi ro tỷ giá không đáng có.


    Do tác động bất lợi của các yếu tố bên trong và bên ngoài nền kinh tế, cuối năm 2009 và đầu năm 2010 thị trường ngoại tệ và tỷ giá USD/VND diễn biến khá căng thẳng. Để bình ổn thị trường ngoại tệ và tỷ giá, ngày 10/2/2010 NHNN đã điều chỉnh tăng 3,36% tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 17.941 lên 18.544 VND/USD đi đôi với việc triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, tăng cường quản lý ngoại hối như quy định lãi suất tối đa (1%/năm) đối với tiền gửi bằng USD của tổ chức kinh tế tại TCTD và bắt buộc 7 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải bán ngoại tệ cho các ngân hàng nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ. Nhờ đó, từ cuối tháng 3/2010 đến cuối tháng 6/2010 thị trường ngoại tệ và tỷ giá USD/VND khá ổn định và diễn biến theo đúng định hướng của NHNN; TCTD mua được ngoại tệ từ doanh nghiệp bán; NHNN mua được ngoại tệ từ TCTD; hoạt động thị trường ngoại tệ thông suốt; tín dụng ngoại tệ tăng cao nhờ kỳ vọng ổn định tỷ giá. Tuy nhiên, gần đây trên thị trường xuất hiện tin đồn đoán về sự mất cân đối cung, cầu ngoại tệ và tỷ giá USD/VND tăng đột ngột: Từ ngày 23/6 đến ngày 2/7/2010, tỷ giá bán USD/VND trên thị trường tự do tăng từ 18.890 VND/USD lên 19.140 VND/USD, tỷ giá bán USD/VND của NHTM niêm yết tăng từ 18.990 VND/USD lên mức kịch trần 19.100 VND/USD. Diễn biến này có thực sự là do sự dịch chuyển bất lợi tổng cung, tổng cầu ngoại tệ của nền kinh tế hay không? Chúng ta cùng nhau xem xét luồng chu chuyển ngoại tệ của nền kinh tế qua diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế trong 6 tháng đầu năm 2010.Mặc dù cán cân vãng lai vẫn thâm hụt trong quý I, II/2010 do chủ yếu là thâm hụt thương mại lớn, nhưng thặng dư cán cân vốn luôn thừa để bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai (tức là tổng thu ngoại tệ lớn hơn các tổng chi ngoại tệ của nền kinh tế). Đối với Việt Nam, thâm hụt cán cân vãng lai là vấn đề thâm niên. Trong thời gian qua, cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giữ được ổn định và không bị tổn thương là do cán cân vốn và tài chính luôn thặng dư và trở thành nguồn bù đắp chủ yếu cho thâm hụt cán cân vãng lai; luồng vốn vào chủ yếu là luồng vốn dài hạn, ổn định. Trong tổng thu giao dịch vốn, thu FDI giải ngân chiếm 29,9% (quý I/2010) và 41,4% (quý II/2010); rút vốn vay trung, dài hạn chiếm 18,3% (quý I/2010) và 19,6% (quý II/2010).
    Theo đà phục hồi của nền kinh tế (GDP quý I/2010 tăng 5,83% và quý II/2010 tăng 6,4% so cùng kỳ năm 2009), các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế (giao dịch giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới) đều liên tục được cải thiện. Theo đó, trong 6 tháng đầu năm 2010 cán cân thanh toán quốc tế tổng thể được cải thiện qua các tháng (thặng dư trong tháng 4/2010), đồng thời NHNN đã mua được một lượng ngoại tệ đáng kể trong quý II/2010 để tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại tệ nhà nước.
    Trong 6 tháng đầu năm 2010, cán cân vãng lai thâm hụt 3,6 tỷ USD nhưng cán cân vốn thặng dư khoảng 7 tỷ USD.
    Đối với cán cân vãng lai, quý I/2010 thâm hụt 1,9 tỷ USD nhưng đến quý II/2010 chỉ thâm hụt gần 1,7 tỷ USD do thâm hụt thương mại giảm từ 2,2 tỷ USD xuống khoảng 2 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I/2010 tăng 1,6% và quý II/2010 tăng 30,7% so với cùng kỳ năm 2009. Xuất khẩu hàng hóa quý II/2010 tăng rất cao (22,2%) so với quý I/2010. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 32,1 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2009 (cao hơn nhiều mục tiêu tăng trưởng 6% của cả năm). Nếu loại trừ tái xuất vàng, thì kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2010 tăng 22,4% so với cùng kỳ năm 2010.
    Chuyển tiền một chiều ròng quý I/2010 đạt hơn 2 tỷ USD, tăng 32,5% và quý II/2010 đạt 1,8 tỷ USD, tăng 15,8% so cùng kỳ năm 2009. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, chuyển tiền một chiều ròng đạt gần 3,9 tỷ USD, tăng 24% so cùng kỳ năm 2009. Chuyển tiền kiều hối 6 tháng đầu năm 2010 đạt khá, ước đạt 3,6-3,7 tỷ USD, tăng hơn 20% so cùng kỳ năm 2009. Đặc biệt, quý II/2010 mặc dù không phải là “mùa kiều hối” nhưng lượng kiều hối về vẫn duy trì được ở mức khá cao (bình quân 500-600 triệu USD/tháng)
    Luồng vốn FDI (ròng) tiếp tục đổ vào Việt Nam cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tin tưởng vào triển vọng kinh tế tốt đẹp và môi trường kinh doanh thuận lợi của Việt Nam, trong đó có sự ổn định tỷ giá USD/VND. Quý I/2010, FDI ròng thặng dư 1,67 tỷ USD, giảm 4,8% nhưng đến quý II/2010 đạt hơn 2 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2009. Quý II/2010, vốn FDI thực hiện đạt 2,9 tỷ USD, trong đó phần vốn thực hiện của nhà đầu tư nước ngoài là 2,35 tỷ USD, tăng 21,3% so cùng kỳ năm 2009 và 18,7% so với quý I/2010. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, vốn FDI đăng ký đạt 8,4 tỷ USD, trong đó vốn đăng ký của các dự án cấp phép mới đạt 7,9 tỷ USD, tăng 43% về vốn. Vốn FDI thực hiện đạt 5,4 tỷ USD, tăng 5,9% so cùng kỳ năm 2009, trong đó phần vốn thực hiện do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 4,33 tỷ USD, tăng 14% so cùng kỳ năm 2009.
    Như vậy, chỉ tính riêng thặng dư của chuyền tiền một chiều và thặng dư vốn FDI đủ bù đắp cho nhập siêu trong quý I, II và cả 2 quý đầu năm 2010, từ đó giảm thiểu áp lực đến cung, cầu ngoại tệ trên thị trường.
    Luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) tiếp tục duy trì xu hướng thặng dư. Trong quý II/2010, các nhà đầu tư nước ngoài mua ròng trên thị trường chứng khoán khoảng 500 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, vốn FII ròng đạt mức thặng dư 1,8 tỷ USD (cùng kỳ năm 2009 vẫn còn thâm hụt 492 triệu USD). Vốn FII thặng dư lớn là do đầu năm 2010, Chính phủ Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế (theo phương pháp luận thống kê cán cân thanh toán quốc tế giao dịch này phải được thống kê vào hạng mục FII thay vì vay nợ của Chính phủ). Nếu loại trừ phát hành trái phiếu của Chính phủ thì trong 6 tháng đầu năm 2010 các nhà đầu tư nước ngoài vẫn mua ròng trên thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng 800 triệu USD (bao gồm cả thị trường OTC), trong đó quý I/2010 là 290 triệu USD.
    Vay nước ngoài cải thiện rõ rệt so với cùng kỳ năm 2009 nhờ chủ yếu Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh việc hoàn tất đàm phán, ký kết và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các khoản vay ODA (trung, dài hạn) theo các chương trình, dự án đã cam kết. Vốn ODA giải ngân trong 6 tháng đầu năm 2010 ước đạt 1,41 tỷ USD, tăng 11% so cùng kỳ năm 2009. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, vay nước ngoài ròng ước đạt 1,6 tỷ USD, tăng 150% so cùng kỳ năm 2010.
    Với diễn biến thu, chi ngoại tệ của nền kinh tế qua các hạng mục chính của cán cân thanh toán quốc tế có thể thấy rằng tổng cung, tổng cầu ngoại tệ của nền kinh tế trong quý II/2010 và 6 tháng đầu năm 2010 vẫn trong trạng thái ổn định, tích cực.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

Trang 3 của 6 Đầu tiênĐầu tiên 123456 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •