Kết quả 1 đến 5 của 5

Chủ đề: Các Hoàng tử triều Nguyễn .

  1. #1
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Các Hoàng tử triều Nguyễn .

    Theo tin từ Hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc cho biết Hoàng tử Vĩnh Giêu, con trai vua Thành Thái, vị hoàng tử cuối cùng của triều Nguyễn vừa qua đời tại Mỹ.
    Theo đó, vào lúc 12 giờ trưa (giờ Việt Nam) ngày 12/2 (nhằm ngày 13 tháng Giêng năm Giáp Ngọ), hoàng tử Vĩnh Giêu, tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Giêu đã từ trần, thọ 90 tuổi, tại Mỹ. Thi thể hoàng tử sẽ được hỏa táng theo nghi thức Công giáo.
    Ông Nguyễn Phước Vĩnh Khánh, Trưởng ban liên lạc và đối ngoại Hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc cho biết, Hoàng tử Vĩnh Giêu là vị hoàng tử cuối cùng trong số các hoàng tử của 13 vua trị vì tại Huế được công nhận tước vị chính thức khi vua cha còn trị vì.
    Hiện vẫn có một số hoàng tử nhưng là theo cách gọi thân thuộc của bà con Nguyễn Phước Tộc nhưng không chính thức. Ví dụ hoàng tử của vua Duy Tân sinh ra khi vua bị lưu đày bên đảo quốc của Pháp, hay hoàng tử con bà phi của vua Bảo Đại khi đã thoái vị… đều không được coi là chính thức - vì không được phong tước vị.
    Nguyễn Phước Vĩnh Giêu là con trai của vua Thành Thái (1879-1954). Thành Thái là vị vua thứ 10 trong số 13 vị vua trị vì ở triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) tại Huế. Đây là triều đại phong kiến cuối cùng của đất nước ta. Vua lên ngôi khi giặc Pháp vẫn còn đặt nền móng đô hộ ở Việt Nam. Vua Thành Thái có tên thật là Nguyễn Phước Bửu Lân, trị vì từ năm 1889 đến năm 1907. Ông có nhiều con trai và nhiều con gái. Một trong số đó là Nguyễn Phước Vĩnh San, sau này là vua Duy Tân.
    Vua Thành Thái là một trong 3 vị vua chống Pháp quyết liệt, bị đế quốc Pháp đày ra ngoại quốc cùng với các vua Hàm Nghi, Duy Tân. Hiện thi hài vua Thành Thái đang được an táng tại An Lăng, đường Duy Tân, TP Huế.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  2. Các thành viên cảm ơn DOIC4ANHHUNG vì bài viết hay này:

    KG_BS (13-02-2014)

  3. #2
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Hoàng tử Cảnh

    Tháng ba năm Nhâm Dần 1782, quân Tây Sơn tấn công Gia Định. Lực luợng tan rã, Nguyễn Ánh phải chạy trốn ra đảo Phú Quốc. Một năm sau, tháng sáu năm Quý Mão 1783, Phan Tiến Thận thống suất quân Tây Sơn vào tấn công Phú Quốc, Nguyễn Ánh một lần nữa bị thua liểng xiểng, vào lúc lâm nguy chỉ chạy thoát được nhờ cai cơ Lê Phúc Điền, như Lê Lai một thời trước, xin mặc áo ngự đứng đầu thuyền để bị bắt thay. Quân Tây Sơn phái Trương Văn Đa đem thủy quân đến "vây ba vòng", tình thế thật nguy cập cho Nguyễn Ánh. May cho ông, vào lúc ấy, gió bảo nổi lớn dữ dội, đánh đắm phần lớn thuyền bè địch quân. Lần nầy Nguyễn Ánh lại chạy thoát qua trốn ở một hòn đảo gần Thái Lan và Campuchia mang tên Cở Cốt (Ko Kut) sau nầy được xác định là Cổ Long (KohRong) hay Thổ Chu (Poulo-Panjab). Vào lúc nầy Nguyễn Ánh tình cờ gặp lại giáo sĩ người Pháp Pigneau, tức Bá Đa Lộc, đã quen nhau từ năm Đinh Dậu 1777 ở Hà Tiên khi lưu lạc trốn tránh quân Tây Sơn.
    Nguyễn Phúc Cảnh, thường được gọi Hoàng tử Cảnh, sinh năm Canh Tý 1780 (hay Kỷ Hợi 1779) ở Gia Định. Bà mẹ Tống Thị Lan sau nầy được phong Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, là con quan Chưởng doanh Tống Phúc Khuông, sinh cho chúa Nguyễn Ánh được ba con trai, Nguyễn Phúc Hy và Nguyễn Phúc Noãn mất sớm, Vâng lệnh cha, Hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc sang Pháp năm năm (1784-1789) làm con tin. Năm Giáp Dần 1794, lúc 14 tuổi, ông được lập Đông cung Thái tử, phong chức Nguyên súy Quận công, ban Đông cung Chi ấn, dựng phủ Nguyên súy, có thẩm quyền bổ nhiệm văn võ đại thần. Mùa hè năm ấy, Nguyễn Ánh ra đánh Qui Nhơn, Đông cung lãnh nhiệm vụ trấn giữ Gia Định, rồi qua mùa đông trấn gìữ Diên Khánh. Vào lúc Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Hưng nhà Tây Sơn đem quân thủy bộ vào đănh Diên Khánh, Nguyễn Ánh sợ nhiệm vụ cực nhọc, quá sức ông, đưa ông về lại trấn giữ Gia Định chăm lo trị an, phòng ngự, vận tải quân nhu. Tháng năm năm Đinh Tỵ 1797, Nguyễn Ánh ra tấn công Đà Nẵng, Quảng Nam, phái Đông cung đem quân sĩ vào cửa Đại Chiêm, đánh lấy Chiêm Dinh. Qua tháng sáu, thắng trận ở La Qua, ông được thưởng 1000 quan. Tháng mười năm Mậu Ngọ 1798, Đông cung được phong tổng quản tướng sĩ trấn giữ Diên Khánh, có Ba Đa Lộc và Phó tướng Tống Việt Phước phụ tá. Tháng tư năm Kỷ Mùi 1799, ông theo vua cha đi đắnh Thi Nại rồi đánh chiếm Qui Nhơn. Tháng mười năm Canh Thân 1800, thấy các dinh Gia Định đều được gởi đi đánh quân Tây Sơn, ông xin được phép lập thêm chi binh, chiêu mộ những quân bỏ trốn, những dân ngoại tịch bù vào để canh giữ. Ngày 20 tháng ba năm Tân Dậu 1801, sau khi đi đánh chiếm Thị Nại về, Đông cung mắc bệnh đậu mùa (có tài liệu nghi ông bị đầu độc) và mất năm 21 (hay 22) tuổi, sau cha Bá Đa Lộc hai năm và trước khi vua Gia Long lên ngôi một năm. Nguyễn Ánh phái Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Tử Châu hiệp cùng Lễ bộ lo việc an táng ở Gia Định, định việc giá thú 60 ngày. Năm Ất Sửu 1805, vua Gia Long phong Anh Duệ Hoàng Thái Tử, đưa thờ Đông cung ở Tả vu nhà Thái miếu, lập nhà thờ Đại mộ ờ Vĩ Dạ và năm Kỷ Tỵ 1809 đem về an táng ở Dương Xuân.

    Thông minh, hiếu học, Đông cung được nhiều vị khoa cử uyên thâm dìu dắt học hành. Ngoài Bá Đa Lộc, ở nhà Thái học, lần lượt có Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân (năm Ất Mão 1795), Ngô Tòng Chu, Đốc học Nguyễn Thái Nguyên (năm Mậu Ngọ 1798) làm phụ đạo, Tiến sĩ Ngô Gia Cát (năm Canh Thân 1800) làm Đốc học dạy dỗ. Đồng thời, giảng bàn kinh sử thì mỗi ngày hai buổi có các vị Thị giảng, Hàn lâm viện Thị học (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định), Quốc tử giám Thị học chăm lo. Các vị Thị học còn có trách nhiệm ghi chép mọi cử chị, lời nói của Đông cung để tâu lại vua cha. Trong đời sống hằng ngày, ông là người nhân từ, biết trọng đạo đức. Lính bỏ trốn, vợ con lính bị bắt giam, ông xin cho giam riêng để trai gái được phân biệt từ đó bảo toàn danh dự cho phái nữ. Năm Canh Thân 1800, Hà Tiên thiếu cơm, quản thủ Kiên Giang không cho đong lúa, Đông cung lúc bấy giờ trấn thủ Gia định, liền ra lệnh cho bán mười xe lúa. Năm Đinh Tý 1797, theo vua cha đi đánh Qui Nhơn, Quảng Nam về, ông cho thực hiện cuốn Hiền trung Chư thần Liệt truyện để khuyến khích dân tình. Quá nhân từ, lắm khi Đông cung thiếu cương quyết. Khi ông trấn giữ Diên Khánh, Tống Viết Phước tự tiện làm oai, lấn át Bá Đa Lộc, ông vẫn để yên, sau đó bị vua cha quở trách, nín nhịn là gần như nhu nhược. Trẻ tuổi, Đông cung thiếu kinh nghiệm không tự mình phán xét được, lắm khi nghe theo các vị Sư phó, Phụ đạo, và dễ sai lầm trong quyết định. Đông cung thường đuợc xem có nhiều cảm tình với người Tây phương, hay ra tay che chở người Âu, bảo vệ đạo Thiên chúa. Vì từ bốn tuổi theo Bá Đa Lộc sang Pháp nên Đông cung đã chung sống nhiều với vị Giám mục, từ đấy cũng được dạy dỗ theo đạo Thiên Chúa. Khi ra ở riêng, tuy mộ đạo, ông không cùng ở với Đức Thầy nhưng vẫn thuờng xuyên đi lại thăm viếng. Từ lâu Đông cung hằng mong nhưng không được chịu phép rửa tội. Sách còn chép khi đi Pháp về, ông không chịu bái yết Tôn Miếu, sau nhờ Cao Hoàng hậu khuyên răn mới chịu nghe.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  4. Các thành viên cảm ơn DOIC4ANHHUNG vì bài viết hay này:

    KG_BS (13-02-2014)

  5. #3
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Hoàng tử Vĩnh San .

    Hoàng tử Joseph Roger Vĩnh San là con trai út của vua Duy Tân và bà thứ phi Fernande Antier. Ông sinh năm 1938 tại đảo Réunion, nơi vua Duy Tân bị lưu đày cùng cha là vua Thành Thái từ năm 1916. Cuối năm 2006, ông cùng vợ là bà Lebreton Marguerite đã quyết định về Việt Nam định cư, tại TP biển Nha Trang. Đã bước sang tuổi 70 nhưng trông ông vẫn trẻ trung và nhanh nhẹn. Không may, ông bị tai nạn giao thông vào những ngày cuối năm Đinh Hợi nên suốt thời gian trước Tết Mậu Tý, phải vào điều trị tại TP.HCM.
    Cách nói chuyện cởi mở và sinh động, tác phong giản dị mà sang trọng, lối trình bày nhiều hình ảnh minh họa và giàu cảm xúc, ông bà đã tạo nên một bầu không khí ấm áp. Dù nói chuyện qua phiên dịch là ông Nguyễn Quí Hân, tôi vẫn cảm thấy ông bà thật gần gũi như không hề có ranh giới của ngôn ngữ, không có khoảng cách giữa các nền văn hóa, không có sự khác biệt giữa một người dòng dõi hoàng tộc và một “thảo dân” như tôi...
    " Không ai chọn cho mình nơi để ra đời. Tôi cũng vậy. Tuy sinh ra trên mảnh đất cách quê hương nửa vòng trái đất, nhưng chảy trong tim tôi là một nửa dòng máu Việt Nam. Từ nhỏ, bằng những kỷ niệm và hoài niệm, bằng những câu chuyện và hồi ức, bằng những món ăn dân tộc... cha tôi đã truyền cho các con một tình yêu sâu sắc về mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn của người. Điều đó giúp cho chúng tôi, dù sống ở bất cứ nơi nào, vẫn mang trong mình một tâm hồn Việt và một tình yêu quê hương da diết. Tình yêu ấy được chia sẻ, nguyên vẹn và đầy ắp, với vợ và các con tôi sau này".
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  6. Các thành viên cảm ơn DOIC4ANHHUNG vì bài viết hay này:

    KG_BS (13-02-2014)

  7. #4
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Câu chuyện vua Minh Mạng và Vạn lý Hoàng Sa

    Đến thời Minh Mạng trị vì, nước ta trở thành một quốc gia cường thịnh, các nước lân bang đều nể phục, các nước phương Tây xa xôi cũng nhiều lần đến xin thông hiếu. Với sức mạnh và vị thế đó, Minh Mạng đã cho lực lượng thủy quân của mình tiếp tục quản lý, khẳng định chủ quyền một cách rõ ràng trên các hải đảo, nhất là tại các khu Vạn lý Hoàng Sa (tên gọi chung và phổ biến trước đây về 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa).
    Minh Mạng là vị hoàng đế tiến hành cuộc cải cách lớn nhất triều Nguyễn. Cuộc cải cách của ông được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc cải tiến kỹ thuật đóng thuyền cho cư dân đi biển. Bên cạnh đó, không chỉ chú trọng gia tăng số lượng, mà nhà vua còn cho tăng chủng loại tàu thuyền. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, năm Mậu Tý (1828) vua định ngạch các hạng thuyền (ấn định số lượng các loại thuyền cần đóng) ở các địa phương.
    Tinh thần hướng đến tiến bộ mới của Minh Mạng được sử sách ghi nhận rõ, ví dụ cuốn Quốc sử di biên cho biết vào tháng 4 năm Canh Dần (1830) “vua nghe nói ngoại quốc có xe hỏa, tàu thủy và nhiều vật lạ, sai lũ (Đặng) Khải đi Lã Tống, Tây dương để mua”.
    Quy chế thủy quân cũng được vua Minh Mạng cải tiến, ông định kích thước và kiểu dáng cho từng hạng thuyền, thống nhất trong phạm vi cả nước để các xưởng thuyền theo các quy thức đó mà đóng cho chuẩn. Đặc biệt, Minh Mạng đã cho đóng thuyền bọc đồng theo mẫu của người Pháp, vào năm Nhâm Ngọ (1822), vua cho mua một chiếc thuyền bọc đồng của Pháp đưa về Huế, đặt tên là Điện Dương, để làm mẫu cho các xưởng đóng thuyền tại kinh đô nghiên cứu, triển khai đóng theo mẫu thuyền này.
    Sách Khâm định Đại Nam thực lục cho biết tháng 6 năm ấy, vua “sai Thống chế thủy sư Phan Văn Trường coi đóng thuyền hiệu theo kiểu Tây dương”. Chiếc thuyền bọc đồng đầu tiên hoàn thành được đặt tên là Thụy Long; sau đó hàng hoạt thuyền bọc đồng được đóng thêm chủ yếu là thuyền chiến, một số là thuyền dùng trong các chuyến công cán ở nước ngoài.
    Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cho biết thuyền bọc đồng được phân thành 4 hạng khác nhau là hạng rất lớn, hạng lớn, hạng vừa, và hạng nhỏ. Ngoài thuyền bọc đồng, năm Mậu Tuất (1838) Minh Mạng cho mua một chiếc tàu máy hơi nước cũ của Pháp đem về tháo ra nghiên cứu để lấy mẫu đóng thử.
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

  8. #5
    Ngày tham gia
    May 2009
    Vị trí hiện tại
    Chợ Lãi- Lộc Sơn
    Bài viết
    4,388
    Cảm ơn
    2,626
    Cảm ơn 515 lần trong 407 bài viết

    Mặc định Lần theo chính sử

    Sách “Đại Nam thực lục”, chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 122 của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép về những sự kiện lịch sử vào tháng 3 năm Minh Mạng thứ 15 (1834), có ghi: “Đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ” (Nxb Giáo dục, H. 2004, tập 4, tr.120).
    Ở một số trang khác, sách này cũng cho biết, chính năm 1834 vua Minh Mạng đã sai binh lính đi dựng miếu và lập bia ở Hoàng Sa, nhưng vì sóng to gió lớn không làm được, nên vào tháng 6 năm Minh Mạng thứ 16 (1835), sai Cai đội Thủy quân Phạm Văn Nguyên đem thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu, dựng bia đá đảo Hoàng Sa (tr. 673). Sách này còn cho biết thêm, vào tháng giêng năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu rằng: “Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu, đã phái vẽ bản đồ mà hình thế nó xa rộng, mới chỉ được 1 nơi… Hàng năm nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Xin từ năm nay (1834) trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng chọn phái biền binh thủy quân và vệ giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại, xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói cho rõ, đem về dâng trình” (tr.867). Chuẩn theo lời tấu của Bộ Công, vua Minh Mạng sai Suất đội Thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền cùng 10 bài gỗ, mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt khắc chữ: “Minh Mạng thập thất niên, Bính Thân, Thủy quân Chánh đội trưởng Suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương độ chí thử lưu đẳng tự” (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân (1836), Thủy quân Chánh đội trưởng Suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh đi Hoàng Sa xem xét, đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ). Có lẽ, đây là sự kiện mà hầu hết các bộ chính sử của triều Nguyễn, như “Đại Nam thực lục”, “Quốc triều chính biên toát yếu”, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ… đều có ghi chép.
    Ngoài những trang ghi chép về sự kiện đi Hoàng Sa vào các năm 1834, 1835, 1836, sách “Đại Nam thực lục”, đệ nhị kỷ, quyển 204, còn ghi chép thêm rằng, phái viên Hoàng Sa là Suất đội Thủy sư Phạm Văn Biện cùng thủy quân, binh phu đi Hoàng Sa bị gió bão đánh tan nát nên đến tháng 7 năm Minh Mạng thứ 20 (1839) mới “lục tục” về đến kinh thành. Hỏi vì sao, đoàn thuyền đi Hoàng Sa lần này cho biết, họ đã nhờ thủy thần cứu giúp. Vua Minh Mạng sai Bộ Lễ chọn địa điểm ở cửa biển Thuận An đặt đàn cúng tế tam sinh nhằm cảm tạ thủy thần, rồi thưởng tiền cho Phạm Văn Biện, các biền binh và dân phu đi theo (Tập 5, tr. 532).
    “Nói KHÔNG với đường chín khúc lưỡi bò trên Biển Đông”

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •