PDA

Xem bản đầy đủ : Chùa Thanh Hà- Trụ Sở Ban Trị Sự Phật Giáo Tỉnh Thanh Hóa.



Voldermort
14-07-2008, 12:21 PM
CHÙA THANH HÀ

Thạc sĩ tôn giáo Đào NGuyên Lan

Du khách, tín đồ phật tử từ đường quốc lộ 1A, qua ngã tư bắc thành phố Thanh Hóa, rẽ sang đường Trường Thi, đến Ngã Ba Bia về đường Bến Ngự. Nhìn phía bên trái thấy thấp thoáng sau hàng cây xanh là cổng Tam Quan có gác chuông uy nghi thâm nghiêm. Đó là chùa Thanh Hà. Hiện nay là trụ sở Ban trị sự phật giáo tỉnh Thanh Hóa.

(Đề nghị không trả lời đến khi nội dung bài viết được đánh máy xong)

Voldermort
14-07-2008, 12:33 PM
A- NGÔI CHÙA TỌA LẠC TRÊN VÙNG ĐẤT VĂN HÓA - CÁCH MẠNG CÓ NHIỀU THẰNG TÍCH CỦA THANH HÓA

Vùng đất này thuộc làng Đức Thọ, nơi quàn cư của những người làm chum vại. Đây là làng nghề gốm truyền thống nổi tiếng của Thanh Hóa. Thần tích của làng còn ghi lại: Tổ của làng nghề họ Nguyễn, húy Phúc Khởi và họ Vũ Đình, húy Đức. Hai ông đều là người làng Thổ Hà(huyện Bình Lục tình Hà Nam). Các ông đêm một số thân nhân vào định cư, chọn đất tốt truyền nghề cho người nội tộc. Sau khi mất các ông được dân Đức Thọ Vạn (Vạn- cách gọi một đơn vị hành chính tương tương với cấp Thôn ngày nay- biettoikhong?) lập đền thờ tôn làm thần tổ. Sang thời Nguyễn, hai hài đều được sắc phong và thờ chung một đền. Thành phố Thanh Hóa có nhiều làng nghề đặc trưng. Nhưng dân Đức Thọ Vạn chỉ sống bằng nghề sản xuất và buôn bán chum vại tiểu sành nên tính chất làng nghề ở đây rõ rệt nhất.

Cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sản xuất và kinh doanh đã thu hút nhân công, lao động, Tạo cho vùng đất này sầm uất. Nhân công lao động sống ở ven hai bờ sông Bến Ngự, tạo nên dãy phố bày bán chum vại. Nhân dân tự đặt tên là Lò Chum. Đến bây giờ làng nghề chum vại không còn sôi nổi như xưa, nhưng vẫn có rất nhiều người vào hỏi dò tìm hiểu chất men gốm nứt chân chim để làm gốm giả cổ.

Phía tây chùa Thanh Hà là trường Thi Hương của Thanh Hóa, một thời tấp nập hội tụ kẻ sĩthi thố tài năng nơi của Khổng sân Trình. Di tích còn lại là nhà bia do Pháp rời ra theo đề nghị của chính phủ Nam Triều. ( vì thế mà con đường dẫn đến trường Thi Hương ngày ấy nay gọi tắt là đường Trường Thi. Còn vì ngôi nhà bia được rời ra khu vực trung tâm của ngã ba đối diện nên ngã ba ấy cũng được đặt tên là Ngã Ba Bia.- biettoikhong?).

Nơi con sông đào đã từng được các vua Thiệu Trị, Khải Định đến Bảo Đại ngự thuyền rồng, có bến vua lên; Nhân dân đặt tên là Bến Ngự(huyện Đông Sơn ngày nay cũng có một địa danh mang tên là Cầu Trầu- Đây cũng là một Bến Ngự nữa, nơi quan dân vùng đất đó làm lễ dâng trầu khi đón vua đi án sát qua nên có nên gọi là vậy- biettoikhong?). Nơi đây cũng có nhiều chuyện lạ. Đời xưa còn kể lại: Đời vua Minh Mạng thứ 12, nhà vua cho đào con sông nối sông Thọ Hạc (Sông đào chảy qua làng Thọ Hạc- làng Hạc- Cầu Hạc ngày nay- biettoikhong?) với sông Nhà Lê ở phía nam (Sông đào thời nhà Lê, kéo dài sang đến gần hết đất Đô Lương của Nghệ An mà ngày nay khi đi dọc theo quốc lộ 1A vẫn thấy nhiều đoạn chảy song song- biettoikhong?). Khi dân phu đào đến Bể Nổ thuộc Đức Thọ Vạn (nay là phố Bến Ngự) thì thấy càng đào, doi cát càng đùn lên dữ dội. Mọi người hoảng sợ trình lên tổng đốc Thanh Hóa. Tổng đốc tâu lên nhà vua. Minh Mạng đích thân cưỡi voi ra xem, thấy vậy cũng hoảng cho lấp đi đào nơi khác. Còn Bể Nổ, nhà vua cho lập đền thờ lấy tên là Thủy Linh Từ. Lập xong, tổng đốc Nguyễn Văn Giai cho lập bia ghi lại chuyện ấy. Năm đó là năm Minh Mạng thứ 13(1838). Có thể nói: Đức Thọ Vạn ra đời muộn, nhưng do vị trí thuận tiện, lưu thông thủy bộ, bến phố thuận lợi (từ đây có thể đi ca nô ra sông Mã ngược bến Kim Tân- Thạch Thành), quần tụ nhân công lao động, có hình thức kinh doanh tư bản sớm nhất Thanh Hóa, sĩ tử hào kiệt qua lại.(Do những yếu tố lịch sử như thế nên ngày hôm nay mật độ dân số hai bên bờ sông Bến Ngự vẫn là cao nhất thành phố Thanh Hóa với lối quy hoạch xây dựng kiểu nhà ống phổ biến cùng một hệ thống ngõ, ngách liên hoàn với mật độ rất dày đặc- biettoikhong?). Nơi đây có những lò võ nổi tiếng của Thanh Hóa. Nhiều võ sư đã tham gia võ đài Đông Dương. Nơi đây cũng là quê hương của nhà thơ- chiến sĩ cách mạng Hồng Nguyên, tác giả bài thơ ""NHỚ" nổi tiếng đạt giải Nhất văn nghệ liên khu 4 năm 1948.

Những nhà cách mạng tiền bối của Thanh Hóa không ai không đặt chân đến mảng đất Lò Chum. Nhiều người hoạt động và xây dựng cơ sở ở đây. Thời mặt trận Bình Dân(1936-1939). phố Lò Chum là nơi hoạt động cách mạng sôi nổi. Các nhà cách mạng và là thầy giáo như: Bùi Kính Thăng, Lê Hữu Kiều, Nguyễn Tú Uyên... đã tổ chức nhốm mác xít và truyền bá tư tưởng cho học sinh. Tháng 8 năm 1937 tại số nhà 20 Lò Chum, đồng chí Bí thư tỉnh ủy Trịnh Huy Quang đã chủ trì hội nghị, vận động 5 nhân sĩ tham gia Viện Dân Biểu để đấu trang trong nghị trường, trong đó có ông Nguyễn Đan Quế là người Lò Chum(Thầy học của ông Trịnh Huy Quang). Đối diện với chùa Thanh Hà là nhà bà giáo Lý- Năm 1938 đã ra đời lớp học truyền bá chữ Quốc ngữ đầu tiên thu hút hàng trăm bà con thợ thuyền ở Lò Chum tham gia.

Chuông chùa Thanh Hà đã rung vang cùng lực lượng quần chúng cách mạng xuất phát tại Lò Chum, biểu tình tuần hành từ lúc 8 giờ sáng ngày 19 tháng 8 năm 1945, tràn vào Dinh tỉnh trưởng bắt ý phải đầu hàng cách mạng và rồi đoàn người Phật tử và nhân dân Lò Chum cùng đồng bào thành phố lại tỏa về thu dọn đường phố chào đón Ủy ban cách mạng lâm thời ra mắt vào chiều 20 tháng 8 năm 1945.

Những ai đã từng sống ở đây và ra đi, khi trở lại không khỏi bùi ngùi và da diết nhớ một thời đã qua với bao cải biến thăng trầm. Cảnh cũng khác xưa. Chỉ có ngôi chùa và cổng Tam quan vẫn không có gì đổi khác, như chững tích của quá khứ để gợi nhớ gợi thương với bao nỗi vui buồn, với những cái tên thân thương: Đức Thọ- Thanh Hà- Lò Chum- Bến Ngự

Voldermort
14-07-2008, 02:45 PM
B- LỊCH SỬ CHÙA THANH HÀ

I- Ý NGHĨA VIỆC TÌM HIỂU CHÙA THANH HÀ.

Như chúng ta đã biết: "Đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt" vốn đã trở thành nét văn hóa của làng quê Việt Nam. Số đông làng Việt có chùa. Cũng như tất cả những ngôi chùa thờ Phật ở Á Đông, ngôi chùa Việt bao giwof cũng hài hòa với thiên nhiên, cây cảnh khoe màu tôn tạo thêm "phong cảnh bụt". Nơi ấy người Việt, trước là kính lễ Phật, sau là cầu xin Đức Phật cho gặp may gặp mắn trong đời. Tránh những những rủi ro "ma theo lối quỷ đưa đường". Ai mắc nạn lại cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát che trở cho tai qua nạn khỏi. Vào thế kỷ 16-17, với sự phát triển của đạo Mẫu, chùa Việt phía bắc nhiều chùa thờ cả Mẫu. Tiền Phật hậu Thánh. Ngôi chùa trở nên tấp nập hơn. Không chỉ có Phật tử mà "con nhang con khói nhà Thánh" (cách nói của những người theo đạo Mẫu) cũng thiện tâm: Trước lễ Phật sau lễ Thánh. Người Việt vào chùa cầu may nhưng thâm tâm lại tâm niệm: Tu tại Tâm. Tâm thành kính lễ- Nghiệp còn đến đâu thì duyên may đến đấy. Đi chùa đi đền kính lễ cốt sao cho lòng thanh thản. Theo lời Phật dạy giữ chữ Thiện, Chữ Tâm, chữ Đức. Tránh làm điều ác để khỏi bị tiền oan nghiệp chướng. Thắng cảnh tyhieen nhiên quanh chùa càng tạo cho thế giới tâm linh con người thêm nhẹ nhàng thanh thoát. Ngày trước: đi lễ chùa đa phần là người già phụ nữ, đi cầu am lành cho gia đình, xưa có câu: "Trẻ vui nhà, già vui chùa". Nhưng mục đích chính là tìm đến chùa để thức dậy sự tu nhân tích đức, tạo sự điều hòa cân đối tâm lý trong cuộc sống và cầu may, cho nên ngày nay: Càng ngày số nam nữ trẻ tuổi đi chùa càng đông. Chắp tay kính lễ Phật có cả những người chưa quy Phật và chưa là Phật tử. Lễ Phật trở thành một sinh hoạt văn hóa, đạo Phật trở thành một bộ phận của Văn hóa Việt Nam, góp phần hoàn thiên nhân cách, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Trong tương lai với sự phát triển của Kinh tế- Xã hội, nhà chùa sẽ thu hút càng nhiều khách thập phương đến du lãm, tìm sự thanh thản bình hoà trong cuộc sống và tâm thức tâm linh.


Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông

Cho nên việc đi tìm hiểu lịch sử của nhà chùa để mỗi người đến kính lễ thêm yêu ngôi chùa, góp phần tôn tạo và bảo vệ ngôi chùa thêm đẹp, cũng là bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể. Cũng là làm đẹp cho quê hương Thanh Hóa, vùng đất địa linh nhân kiệt nổi tiếng của Quốc gia.

........

Voldermort
14-07-2008, 04:46 PM
II- QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHÙA THANH HÀ

Chùa Thanh Hà hiện nay là ngôi chùa lớn của tỉnh Thanh Hóa. Khởi nguyên là ngôi chùa làng. Ra đời gần như đồng thời với Đức Thọ Vạn. Theo cụ Nguyễn Trọng Kỳ(Người làng Đức Thọ năm nay đã 80 tuổi) cho biết: Vị trí trước kia ở khu tiếp khách của Hội Phật giáo. Hồi ấy chỉ có 3 gian nhà gỗ theo kiểu cổ điển. Trong có ba hương án sơn son thiếp vàng và mấy pho tượng Phật rất cũ. Khuôn viên của chúa rộng, bằng phẳng và không có tường rào, không có thầy chùa. Hồi ấy có một bà già tên là Ký quê ở tận Nam Định sống độc thân, tha phương cầu thực. Làng cho bà ấy ở để trông coi quét dọn, lại cấp gạo tiền cho để không phải đi ăn xin nữa. Bên cạnh ba gian chùa có ba gian nhà thờ tổ. Ở bên trái có bốn ngôi nhà ngang. Đằng sau có ba gian nhà gỗ nhỏ và hai gian bếp. Phía trước nhà tổ bên trái có một cây sung cổ thụ và một cây nhãn. Giữa có giếng nước xây bằng vại Lò Chum(nay vẫn còn).

Chùa Thanh Hà do dân làng Đức Thọ góp công và được quan tri huyện Cẩm Thủy sắc thụ Văn Lâm Lang Mai Quý công tự Xuân Hòa(thường gọi là quan huyện Hoành) hăng hái xúc tiến cầu xin quan sở tại cho xây dựng. Hiện nay tượng quan Huyện đang thời tại chùa. Trong chùa còn có một quả chuông ghi rõ lại việc đúc chuông chùa Thanh Hà. Chuông đúc vào triều vua Thành Thái năm đầu- Kỷ Sửu ngày 10 tháng 9. (1989)

Nội dung: Thanh Hóa tỉnh, Thiệu Hóa phủ, Bố Đức tổng, Đức Thọ Vạn, đồng giáp trên dưới, góp sức tạo một quả chuông lớn. Trưởng chòm: Thợ cả Nguyễn Văn Trí, Hội trưởng Chủ sự là Nguyễn Văn Thạch.

Những ngày tế lễ lớn, làng thỉnh mời Hòa thượng Thích Minh Lãng trụ trì chùa Quảng Thọ sang làm chủ sự (Hòa thượng Thích Minh lãng quê ở xã Tuy Lộc huyện Hậu Lộc, quy y ở chùa Bà Đá (Hà Nội) theo dòng thiền Lâm Tế chính tông, hoằng pháp ở chùa Quảng Thọ. Các nhà sư ở chùa Quảng Thọ sau này nhiều vị đã được thỉnh về trụ trì ở các chùa Đông Tác, Quảng Hóa, Thanh Hà, Chùa Đầm, Chùa Vồm... Bia ở chùa Quảng Thọ còn ghi: Lâm tế môn nhân, Hòa thượng Thích Minh Lãng) cho nên Hòa thượng Thích Minh Lãng chính là vị tổ khai sáng dòng Lâm Tế Sơn Môn của Phật giáo Thanh Hóa.

Sau này ngôi chùa càng bị hoang lạnh vì không có người hương khói. Vào năm 1933, hội đồng hương lý trong làng xin cụ Nguyễn Văn Phú (Cụ rất mộ Phật và hiểu biết nho học trong làng) cho hai con là Nguyễn Thúc Huỳnh và Nguyễn trọng Kỳ ra giúp đèn hương và tụng kinh lễ bái trong những ngày tuần.

Bảo Đại năm thứ 10 (1935), dân làng thống nhất trùng tu lại chùa (năm trùng tu còn ghi ở bia Hậu) làng nhờ cụ NGuễn Văn Phú ra giúp và thỉnh sư tổ chùa Hương Dự- Ninh Bình xin cho đệ tử vào giúp kế hoạch xây dựng kiểu mẫu hợp thể thức nhà chùa. (Bởi Hòa thượng chùa Ninh Bình cùng dòng thiền Lâm Tế, quy y xuất gia ở chùa Quảng Thọ và hoằng pháp tại Ninh Bình). Hòa thượng chùa hương Dự thuận tình đã cử Hòa thượng Thích Thanh Trình và Sư ông Thích Thanh Đức vào Đức Thọ Vạn thăm chùa, bàn bạc với ban trị sự gồm chành tổng, lý trưởng, hương chức cùng các kỳ lão trong làng thiết kế sơ đồ quy hoạch xong, bàu ra ban phụ trách gồm 14 vị (......)

Theo bà Lê Thị Dục (năm nay gần 80 tuổi, nguyên là ủy viên Ủy ban thị xã Thanh Hóa, phụ trách văn xã cũng là người làng Đức Thọ) cho biết: Thời gian làm chùa, dân Đức Thọ vạn góp nhiều công của, trong đó có rất nhiều ngywowif đống góp và rất nhiệt tâm với công việc của nhà chùa như bà Phó Dết (nhà gần trường Mision) góp tiền đúc tượng. Bà Hai Chinh, bà Hai Hòa (con ông Lý Ngưỡng) đi vận động nhân dân Lò Chum đóng góp công quả cho nhà chùa.

Ban phụ trách đã thống nhất chọn thợ mộc, thợ ngõa giỏi ở đất thợ nổi tiếng của Thanh Hóa để xây dựng chùa. Đó là thợ mộc làng Đạt Tài(xã Hoằng Hà) do ông phó Tẽo và ông phó Bân phụ trách. Thợ ngõa (thợ nề) ở làng Hoằng Nghĩa (Hoằng Lộc) do ông phó Đồng và ông phó Xuân phụ trách. Toàn bộ thi công hơn một năm mới hoàn thành. Chịu trách nhiệm viết hoành phi câu đối trong chùa do cụ Nguyễn Văn Phúc để cho thợ mộc và thợ ngõa cẩn vào tường.. Tạc tượng, cao môn của võng, ban bệ chạm trổ chu đáo đều do thợ Đạt Tài làm. Du khách đến đây sẽ được chiêm ngưỡng "đường chạm, đường đục đường soi rành rành", ở những tay thợ mộc Thanh Hóa vốn đã từng nổi tiếng cả nước.

Hoàn thành ngôi chùa, Hòa thượng Thích Thanh Trì mờ hàng tổng và làng Đức Thọ cùng các cụ trong ban xây dựng làm lễ khánh thành chùa. Cụ NGuyễn Trọng Kỳ còn nhớ rõ lễ hội ngày ấy: Trước là uy nghi kính lễ Tam Bảo Phật, lễ Thánh Thần, lễ Thánh Mẫu, lẽ rước tượng quan huyện quy y về chùa. Sau là mở hội có:Tế nữ quan, đánh cờ người, trò tổ tôm điếm, đánh du nam nữ, bơi thuyền, thả đèn (phóng đăng), thả chim (phóng sinh)

Chùa Thanh Hà vào lễ hội mang màu sắc sinh hoạt văn hóa làng. Cho đến giờ hiện trạng của chùa cơ bản không thay đổi. Hòa thượng Thích Thanh Trình được dân làng thỉnh mời ở lại và là vị sư tổ khai sáng của chùa Thanh Hà.

Do thời gian và chiến tranh, nhiều ngôi chùa quanh thành phố bị tàn phá và hư nát, một bộ phận thực hiện tiêu thổ kháng chiến như chùa Quảng Thọ, chùa Thanh Thọ, chùa Quảng Hóa, chùa Hai Voi, phủ Thanh Lâm... Nhân dân đã thỉnh tượng và đưa đồ thờ cũng từ các chùa, phủ ấy quy tụ về chùa Thanh Hà.

Khuôn viên của chùa cũng bị thu hẹp lại, Một số gia đình vào chùa ở, tiểu khu Điện Biên mượn phủ Mẫu là trụ sở hành chính, không có tường rào, ngôi chùa có phần hoang phế. Khi hòa thượng Thích Thanh Cầm chuyển về, ngài đã sửa sang tượng Phật, ổn định Phật giáo, cho xây vườn tháp, sửa sang phủ Mẫu. Thời ấy cụ thường nói: Đất của nhà nước, chùa của dân, tăng quản lý. Được chính quyền địa phương giúp đỡ, nhà chùa đã di chuyển được khu tập thể trước phủ Mẫu và giải phóng khu vực hàng quán trước cổng chùa. Năm 1994; Hòa thượng viên tịch, Đại Đức Thích Tâm Đức khi ấy còn là Sadi (sư bác), đang học ở trường Phật học cơ bản ở Hà Nội(Bây giờ là trường trung cấp Phật Giáo) tiếp nhận trụ trì. Được sự giúp đỡ của các sư đệ như Đại đức Thích Tâm Minh, Đại đức Thích Tâm Định, Đại Đức Thích Tâm Hiền.... cùng các ban ngành chính quyền, Ban trị sự Phật giáo và đông đảo tín đồ, Phật tử. Ông đã vận động các gia đình ở trong chùa chuyển ra nơi khác, sửa chữa chùa, nhà Tổ, phủ Mẫu, xây mới nhà gia tiên, nhà khách, khu làm việc tạm thời của văn phòng Ban trị sự, khu sinh hoạt và làm việc của sư tăng, tường rào và sân chùa. Từ đấy: Bước đầu đã đưa đến sự thanh tịnh của chốn thiền môn, tách biệt sinh hoạt của dân và nhà chùa.
.....

Voldermort
14-07-2008, 05:27 PM
III- KHẢO TẢ BÀI TRÍ BÀI TRÍ TRONG CHÙA THANH HÀ.

Phần này tạm thời chưa có hình minh họa nên việc giới thiệu trở nên rất khó khăn. Xin khất để lại sau vì việc muốn có các bức hình này không thể không xin phép Ban trị sự và Trụ trì chùa Thanh Hà. Nếu ai nhiệt tình giúp đỡ xin liên hệ với Voldermort qua diễn đàn này hoặc gửi tư liệu cho Voldermort qua địa chỉ Email: thanhhoa.dongatravel@yahoo.com.vn.

Xin chân thành cảm ơn!

(Tạm thời để trống ô này chờ tư liệu bổ xung)

Voldermort
14-07-2008, 05:28 PM
VIII- NHỮNG CÂU ĐỐI Ở CHÙA THANH HÀ

Phần này tạm thời chưa có hình minh họa nên việc giới thiệu trở nên rất khó khăn. Xin khất để lại sau vì việc muốn có các bức hình này không thể không xin phép Ban trị sự và Trụ trì chùa Thanh Hà. Nếu ai nhiệt tình giúp đỡ xin liên hệ với Voldermort qua diễn đàn này hoặc gửi tư liệu cho Voldermort qua địa chỉ Email: thanhhoa.dongatravel@yahoo.com.vn.

Xin chân thành cảm ơn!

(Tạm thời để trống ô này chờ tư liệu bổ xung)

Voldermort
14-07-2008, 06:21 PM
V- LỄ HỘI CHÙA THANH HÀ MỘT THỜI.

Cũng theo cụ Nguyễn Trọng Kỳ kể lại: Thời Pháp thuộc, phía nam ngôi chùa có xây một nền cao rộng lớn để hàng năm ba quan lớn tỉnh về tế Nghinh Xuân Cầu Phúc cho dân(gồm:Tổng đốc, Bố chánh, Án sát). Tết Nguyên Đán: ngày mùng 1 và mùng 2 trong chùa lễ Phật , cầu kinh. Trong hai ngày này cả làng còn đi rước Bóng. Bốn mươi người con trai kiệu rước lễ Mẫu tại Đình Hương, cũng như các đình chùa trong thành phố như: chùa Chanh(Hương Quang Tự) chùa Nam Ngạn(Mật Đa Tự), chùa Thanh Thọ, chùa Quảng Hóa, chùa Hai Voi, đền Thủy Linh(phủ Mẫu), phủ Cốc, phủ Thanh Lâm, phủ Thanh Nam, đền Đức Thánh Trần(Làng Hạc). Sang ngày mùng 3 tết làng Giáp làm lễ Phật- Thần- Thánh, rồi bốn Giáp thi cỗ gà xôi nếp trắng được tuyển lựa rất kỹ.

Và theo bà Lê Thị Dục cho biết: lễ rằm thắng 7 là lớn nhất, sau khi lễ thường phóng sinh, phóng đăng ở Bến Ngự. Ngày Phật Đản mùng 8 tháng 4 (bây giờ là 15/4) chùa dựng đàn Mông Sơn Thị Thực. trong tiết lập xuân, ba quan lớn tỉnh thường rước ba pho tượng thần nông từ trong thành ra ngoài chùa Thanh Hà để tế lễ.

Những năm kháng chiến chống ngoại xâm, các Hòa thượng trụ trì đã ủng hộ nhiều cho kháng chiến. Hòa thượng Thích Thanh Trì đóng góp chiếc xe đạp của Ông cho Nguyễn Xuân Khoát đi xe thồ trong chiến dịch Thượng Lào. Chiếc xe bị cháy, phật tử rất cảm động với câu nói của Cụ: "Đóng góp cho kháng chiến là quý, có gì một chiếc xe". Hòa thượng Thích Thanh Cầm khi còn ở chùa Gia, cụ đã đóng góp xây dựng hai trường học, xây dựng hai nghĩa trang, ủng hộ lương thực và thực phẩm cho đội xây dựng cầu Hàm Rồng. Cụ được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba.

Ông Nguyễn Trọng Kỳ đã có bài thơ đề tặng Hòa thượng Thích Thanh Trì:

Đức Thọ Thanh Hà phúc thọ môn
Trụ trì y cựu hộ giang sơn
Tịch triêu tĩnh tọa cầu kinh kệ
Tuế nguyệt siêu sinh độ phách hồn
Tứ hải tham thuyền sùng ngoạn cảnh
Thập phương mộ đạo vọng suy tôn
Từ bi bác ái đa chiêm ngưỡng
Pháp- Nhật xâm lăng phủ tự tồn.

Ông cũng có bài diễn ca lễ hội chùa Thanh Hà một thời:

Mùng một tết đầu năm thường lệ
Tế Nghinh Xuân chủ tế ba quan
Cầu cho dân nước bình an
Năm năm đầy đủ quân quan tỉnh về
Dân nhộn nhịp thỏa thê ăn uống
Đốt lửa lò thịnh vượng nơi nơi
Tế Nữ Quan đánh cờ người
Tháng ba rước Bóng tháng hai cỗ gà
Nhân công gốm nhà nhà tấp nập
Chủ Lò Chum các cấp rước mời
Giêng hai, ba tháng ăn chơi
Người tổ tôm điếm, người chơi Tài Bàn
Đèn treo cửa, mọi đường đều sáng
Chơi chọi gà, bè bạn tắm bơi
Tuồng chèo ca hát khắp nơi
Dân ca quan họ hát chòi trống quân
Cùng hát Ghẹo bờ sông hai họ
Anh bên này chị nọ bên kia
Đoàn thuyền Bơi Chải lại qua
Hoa đăng ngũ sắc kết hoa giữa dòng
Nay hai họ cộng đồng Trịnh Nguyễn
Giáp Bắc xưa kháng chiến bom tan
Miếu thần hai họ sửa sang
Nghênh thần tế lễ mở mang sau này
Cầu thôn xóm tháng ngày mạnh khỏe
Giúp toàn dân mọi vẻ xanh tươi
Gần xa buôn bán khắp nơi
Làm ăn như ý muôn đời vẻ vang
Người người nhớ gốc nhớ làng
Góp phần công đức đèn nhang lễ thần.

Voldermort
16-07-2008, 11:43 AM
VI- LỊCH LỄ HỘI CHÙA THANH HÀ- MỘT SỐ NGÀY LỄ CHÍNH TRONG NĂM THEO ÂM LỊCH.

A- LỄ PHẬT.

- Ngày mùng 1 tết Nguyên Đán: Khánh Đản Đức Phật Di Lặc.

- Ngày mùng 8 tháng Giêng: Cúng sao giải hạn.(Cúng sao hội)

- Rằm tháng Giêng: là ngày lễ hội lớn nhất của Phật Giáo Việt Nam.

(Ngoài ra Phật tử còn lễ Phật vào ngày rằm và mùng một hàng tháng)

- Ngày 15 tháng 2: Thích Ca Giáo Chủ nhập Niết Bàn

- Ngày 21 tháng 2: Khánh đản Đức Phổ Hiền Bồ Tát.

- Ngày 16 tháng 3: Khánh đản Đức Chuẩn Đề Bồ Tát.

(hai ngày Phổ Hiền và Chuẩn Đề soạn chú Kinh Phật)

- Ngày 14 tháng 4: Khánh đản Đức Văn Thù Bồ Tát.
(Ngài cùng với Đức Kiền Trần Như dẫn dắt chúng sinh vào đường Đạo)
- Ngày 15 tháng 4: Khánh đản Đức Phật Giáng sinh.

- Ngày 19 tháng 6: Khánh đản Đức Quan Âm Bồ Tát thành Đạo.

- Ngày 13 tháng 7: Khánh đản Đức Đại Thế Chí Bồ Tát.
(Ngài cùng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và các vị khác dẫn dắt chúng sinh hộ trì Phật Pháp)

- Ngày 15 thàng 7: lễ Vu Lan, vào mùa báo hiếu Tứ Thân Phụ Mẫu- Lễ cầu siêu.

- Ngày 30 tháng 7: Khánh đản Đức Mục Kiền Liên Bồ Tát, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát(Thân mẫu Đức Phật Thích Ca) cứu độ chúng sinh.

- Ngày 6 tháng 8: Tổ Tuệ Viễn Đại Sư Thị Tịch. (Tổ Phật của Việt Nam).

- Ngày 9 tháng 9: Tiệc chùa Cổ Lễ(Hà Nam), chùa Keo (Duy Tiên- Thái Bình).

- Ngày 19 tháng 9: Khánh đản Đức Phật Dược Sư.

- Ngày 5 tháng 10: Khánh đản Đức Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư.
(Tôt thứ 28 của Phật Ấn và Tổ thứ nhất của Trung Hoa. Ở ban thờ tổ của chùa Việt thường có tượng Ngài- Đây là Tổ truyền Đạo.)
- Ngày 3 tháng 11: Lễ vua Trần Nhân Tông.(Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm- Yên Tử)
- Ngày 17 tháng 11: Khánh đản Đức Phật Di Lặc Tây Phương.

- Ngày 8 tháng 12: Lễ Đức Phật Thích Ca Thành Đạo.

Voldermort
18-07-2008, 09:15 AM
B- CÁC NGÀY GIỖ TỔ Ở CHÙA THANH HÀ

Chùa Thanh Hà có rất nhiều ngày giỗ, vì đây là ngôi chùa chốn tổ duy nhất còn lại của dòng Lâm Tế Sơn Môn sau bao nhiêu năm chiến tranh. Tuy thế các nhà sư chỉ kỷ niệm các ngày giỗ lớn(theo Âm Lịch)

- Ngày 4 tháng Giêng: Giỗ Hòa thượng Thích Khai Sáng.(Tổ khai sáng chùa Quảng Hòa)

- Ngày 24 tháng 4: Giỗ Hòa thượng Thích Thanh Cầm.(Tổ khai sáng chùa Gia Đầu, trụ trì chùa Thanh Hà.)

- Ngày 3 thàng 8: Giỗ Hòa thượng Thích Minh Lãng.(Tổ khai sáng dòng Lâm Tế Phật giáo Thanh Hóa, Tổ khai sáng chùa Quảng Thọ.)

- Ngày 18 tháng 10: Giỗ Hòa thượng Thích Thanh Trình(Tổ khai sáng chùa Thanh Hà)

Voldermort
05-09-2008, 10:31 PM
C- NHỮNG NGÀY VÍA ĐẢN VÀ LỄ THÁNH

- Ngày 9 tháng Giêng: Vía Đức vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế.

- Ngày 10 tháng Giêng: Sinh nhật thánh Động Đình.

- Ngày 25 tháng Giêng: Hội đồng đại lễ Đức Đông Hải.

- Ngày 10 tháng 2: Lễ Đệ Nhị Thánh Cô.

- Ngày 14 tháng 2: Hóa ỵ Quan lớn Tuần Tranh(Gần đền Linh Giang)

- Ngày 21 tháng 2: Giỗ Vua Bà(Bà Triệu- Hội núi Tùng- Hậu Lộc)

- Ngày 24 tháng 2: Kỵ Mẫu đền Dâu(Tam Điệp- Ninh Bình)

- Ngày 2 tháng 3:Tiệc Thánh Mẫu Phủ Giày (Đại Lễ).

- Ngày 3 tháng 3: Kỵ Thánh Mẫu Phủ Giày.

- Ngày 6 tháng 3: Lễ Đệ Nhị Vương Tử.

- Ngày 8 tháng 3: Giỗ Lê Đại Hành- Hội Đền Trường Yên, Giỗ Vua Bà (Hai Bà Trưng).

- Ngày 9 tháng 3: Sinh nhật Mẫu Thượng Ngàn.

- Ngày 8 tháng 4: Lễ Chúa Bán Thiên và đệ Đậu An.

- Ngày 10 thàng 4: Lễ Chầu Quan Lớn Khâm Sai Đại thần.

- Ngày 24 tháng 4: Lễ Đệ Nhất Vương Tử.

- Ngày 28 tháng 4: Lễ Đệ Nhất Thánh Cô.

- Ngày 5 tháng 5: Lễ Đức Thánh Phạm.

- Ngày 7 tháng 5: Lễ Đức Thánh Đệ Tam Cửu Suốt.

- Ngày 25 tháng 5: Lễ Đức Đệ Ngũ Tuần Tranh (24) Nhị Mai Quan.

- Ngày 1 tháng 6: Lễ Đức Quốc Mẫu.

- Ngày 9 tháng 6: Kỵ Cô Bơ Thoải Cung- Hàn Sơn.

- Ngày 12 tháng 6: Tiệc Mẫu Thoải- Hàn Sơn.

- Ngày 16 tháng 6: Tiệc Bà Chúa Đệ Nhất.

- Ngày 24 tháng 6: Tiệc Quan Bơ Phủ Đệ Tam (Đền Linh Giang).

- Ngày 29 tháng 6: Tiệc Quan Hoàng Bơ Thái Tử.

- Ngày 3 tháng 7: Lễ Đức Tĩnh Huệ Cung Phi.

- Ngày 12 tháng 7: Lễ Mẫu Đông Cuông- Tuần Quán.

- Ngày 16 tháng 8: Giỗ Nguyễn Trãi.

- Ngày 20 tháng 8: Tiệc Đức Thánh Mẫu. Chính kỵ Đức Trần Triều Hiển Thánh(Bảo Lộc - Nam Định).

- Ngày 21, 22 tháng 8: Giỗ Lê Lai- Giỗ Lê Lợi (Lam Kinh- Thọ Xuân).

- Ngày 22 tháng 8: Tiệc Vua Cha Bắc Hải.

- Ngày 9 tháng 9: Đản Mẫu Cửu Trùng Thiên.

- Ngày 13 tháng 9: Giỗ Cô Sáu (Tân La - Tuyên Quang), Cô Tám Đồi Chè (Chùa Hương), Cô Bảy Thượng Ngàn, Cô Chín Thượng Ngàn (Bắc Lệ).Giỗ Đôi Vương Cô nhà Trần (Quỳnh Thanh Công chúa và Đại Hoàng Công chúa)

- Ngày 16 tháng 9: Lễ Chúa bà Đệ Nhị.

- Ngày 19 tháng 9: Tiệc Mẫu Bắc Lệ Thương Ngàn, Chầu Lục Cung(Lạng Sơn).

- Ngày 20 tháng 9: Lễ Chầu Bé Bắc Lệ.

- Ngày 22 tháng 9: Lễ Đức Quốc Mẫu.

- Ngày 24 tháng 9: Vía Đệ Tứ Tiên Thiên.

- Ngày 10 tháng 10: Tiệc Quan Hoàng Mười (Bến Thủy- Nghệ An).

- Ngày 27 tháng 10: Tiệc Quan Hoàng Bảy (Bảo Hà, Yên Bái)

- Ngày 2 tháng 11: Tiệc Quan Lớn Đệ Nhị.

- Ngày 10 tháng 11: Sinh Nhật Thánh Phạn.

- Ngày 22 tháng 11: Kỵ Quan Lớn Giám Sát.

- Ngày 10 tháng 12: Đức Thánh Phụ Giáng Sinh.

Voldermort
06-09-2008, 11:12 PM
Đôi nét về văn hóa nhà chùa

Nói đến văn hóa nhà chùa là nói đến những hoạt động Phật Pháp, từ kính lễ đến Hoằng Dương Phật Pháp thành nếp nghĩ, nếp làm của nhà chùa, chi phối mọi hoạt động của tăng, ni, Phật tử. mặt khác, Phật giáo Việt Nam trở thành một bộ phận của văn hóa Việt Nam. Từ xưa,Hội chùa là một sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, cho nên văn hóa chùa Việt(nhất là chùa làng) lại có đặc trưng riêng.

Ở đây người viết chỉ nêu vài nét có tình chất phổ biến trong văn hóa tâm linh của người đi chùa.

1: Lễ chùa.

Người đi lễ chùa quan niệm Phật luôn luôn cứu độ và nghe thấy hết, nhìn thấy hết, cứu độ hết. Phật là biểu tượng của sự từ bi hỉ xả. Những người theo đạo Phật phải thụ lý Tam quy Ngũ giới mới được coi là Phật tử(Hòa thượng Thích Minh Châu cho biết: Theo thông kê, cả nước có 15 triệu tín đồ đã quy y được gọi là Phật tử. Nhưng thẻo các nhà nghiên cứu Phật giáo thì những người tin theo luật Nhân- Quả và Nghiệp- Báo của Phật giáo thì tín đò Phật giáo là 50 triệu, e còn khiêm tốn.).

Lễ Phật tùy tâm, một nén hương, miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật là đã Phật chứng. Nhưng trước khi đến chùa nên trai tịnh cho thanh tâm và thành tâm. Lễ Phật phải kính Tăng. Trước khi lên điện chính phải lễ nhà Tổ và lễ Tăng mới xin vào lễ Phật. Nếu chùa không có Tăng thì lễ Ban thờ Đức Ông và Đức Thánh Hiền rồi xin vào lễ chính điện.

Quan niệm dâng hương: Phật thánh trong quan niêm tâm linh bao giwof cũng ở trên cao, khi con người kêu cầu cứu độ, để thấu đến tầng trên bao giwof cũng phải nhờ khói bay lên. Hương- Đăng(hương và đèn nến) là biểu hiện có lửa, có khói để bay thấu cỗi Phật. Mặt khác hương, đăng cũng mang tính biểu tượng của không gian vũ trụ. hai cây đèn (hoặc hai cây nến) là tượng trưng cho Mặt Trời và Mặt Trăng, hương là tượng trưng cho tinh tú (đôi khi là cành hoa giấy tượng trưng cho ngày và đêm), trên bát hương vó cành trầm hay kỳ năm lại có ý nghĩa nối con người với vũ trụ bao la. Thông thường có lọ Độc Bình biểu hiện cho cái "tâm không" chân thực, tức lục căn thanh tịnh.

Voldermort
06-09-2008, 11:28 PM
2- Dâng hương.


Ở mỗi người khi dâng hương là sự tôn nghiêm kính cẩn. Nén hương cắm phải thẳng. Thắp hương là điều làm cho con người bớt đi sự ngạo mạn, kiêu căng, để thăng hoa khỏi thế tục, giây phút nhập vào thế giới tâm linh. Một nén hương thắp lên có ý nghĩa sâu xa, trong đó bao gồm:

- Giới hương: là sự thơm của hương giới, cái đức trì giới thơm tho, được mến mộ. Đó là một phần của Pháp thân.

- Định hương: Thơm hương vì định tâm. Giới hạnh thanh tịnh mới định được. Tâm không tán loạn, yên trụ đạo lý, xa lìa tà ác.

- Tuệ hương: Đức dụng sáng suốt không biện lý và không mê lầm.... là trở nên tinh sạch.

- Giải thoát hương: lìa khỏi mê lầm, vượt thoát tam giới(dục giới, sắc giới, và vô sắc giới) để vào cõi Niết Bàn (được giải thoát nhưng không biết, vẫn phải người chỉ cho biết).

- Giải thoát trì kiến hương: Thân tấm không bị trói buộc, ngày càng tinh tấn (giải thoát và biết mình đã được giải thoát).

Quan hệ ý nghĩa thật chặt chẽ, từ Giới và Định, từ Định vào Tuệ, từ Tuệ mà giải thoát trì kiến... Như vậy: nén tâm hương là biểu tượng về cách tu trì chân chính của Phật tử.

Tuy vậy thắp nhiều hương không phải biểu hiện lòng thanh cao. nhiều khi sự vo minh làm cho thân tinh sặc mạ, tượng Phật sạm đi vì sự bất nhã của thế nhân.

Số nén hương đều có ý nghĩa của nó. Một nén là Tâm Hương, hai nén là cầu hương(xin cầu thì thắp 3 nén). Năm nén là vừa Tâm Hương và Cầu Hương. Số 3 là số biểu hiện vừa biến đổi, vừa cân bằng. Lẻ thì chuyển động, nhờ đó mà biến đổi và phát triển... Nhưng cũng tùy theo hành lễ cụ thể mà thắp 5,7,9 nén như ban thờ Ngũ Phương...

Voldermort
06-09-2008, 11:44 PM
Chọn thế đất làm chùa.

Chi phối của thuật phong thủy, thế đất đẹp là tụ hội Âm- Dương; Trời- Đất. Bao giờ nhà chùa cũng chọn thế đất cao ráo hòa với mạch nước (thường là sông, rạch chảy qua trước mặt hoặc ở bên, nơi có ao, hồ... hoặc giếng). Đó là sự biểu hiện Âm- Dương. Cỏ cây tươi tốt là hệ quả hòa hợp Âm- Dương ấy. Ngoài ra còn được xem đặt ở vị thế linh vật (Rồng- Hổ), xa xa còn có gò đống chầu về tạo vòng cung tay Long(bên trái - phía tả) tay Hổ (bên phải- phía hữu). CHọn hướng chùa thường là chọn hướng Nam. Đó là hướng mát mẻ(Chọn vợ hiền hòa làm nhà hướng Nam). Ngoài ra còn có ý ngiax với các Đức Phật và Bồ Tát đều ngồi quay hướng Nam để nghe tiếng kêu cứu của chúng sinh mà cứu vớt. Hướng nam cũng là hướng Bát Nhã (Tức trí tuệ), đó là cứu cánh của Phật đạo. Quay hướng Đông thì thường thấy ở dòng Tiểu thừa phương Nam. Ngoài ra chùa quay hướng Tây, hướng Bắc lại chứa đựng những yếu tố khác.